Nguyễn Gia Cát (1762-?)

Monday, July 25, 2011

Theo "Phả kí họ Nguyễn làng Xuân Cầu".

Cụ Nguyễn Gia Cát tức Nguyễn Quỳ Giang tiên sinh. Sinh năm Cảnh Hưng thứ 23 (1762) đời Hậu Lê. Là một người rất thông minh mẫn tiệp.

Năm ông 26 tuổi, cụ đậu đặc cách với học vị Ðệ nhị giáp đồng chế khoa xuất thân (Tiến sĩ) vào khoa Ðinh Vị (1787) đời vua Lê Chiêu Thống.
(chế khoa: khoa thi đặt ra để bất cứ ai đỗ cũng như hàng đại khoa, duy chỉ có chọn đầu bài là khác và chấm quyển thi có khi tự nhà vua thân chấm lấy).

Cụ từng được cử đi sứ Trung Quốc,

Về niên hiệu Gia Long:

Tác giả Nguyễn Công Hoan, trong quyển Nhớ và Ghi về Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ, Saigon, 2004, có viết nơi trang 43-44 như sau:
“Sở dĩ mình ngạc nhiên về chữ long này, vì mình thấy trong gia phả nhà ta có chép sự trạng tổ thứ 12, là cụ Nguyễn Gia Cát. Cụ đi sứ cầu phong cho Gia Long.

Vua nhà Thanh thấy hai chữ Gia Long thì bẻ: Sao dám lấy tên hai vua Càn Long và Gia Khánh để đặt hiệu? Vốn Cụ nhanh trí và hoạt bát, nên đáp: “Không phải thế. Nguyên nước tôi gồm nam tự Gia Định, bắc chí Thăng Long, cho nên vua nước tôi đặt hiệu là Gia Long.

Trong gia phả không chép là vua Tầu bắt đổi chữ long là rồng ra long là thịnh vượng, hay tự Gia Long đổi (vì đó là việc của triều đình, không thuộc phạm vi gia phả), nhưng rõ ràng là hiệu Gia Long, mình vẫn thấy viết long (Long) là thịnh vượng, chứ không phải chữ long (Long) là rồng như chữ viết tên thành Thăng Long (Thăng Long). Chắc mấy ông viết sử Thăng Long không biết việc này.”

Theo sử liệu, ông Nguyễn Gia Cát là một trong hai phó sứ của chánh sứ Lê Quang Định, tức sứ đòan thứ nhì sau sứ đòan đầu tiên do Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ sang Tàu xin cầu phong cho vua Gia Long.
Sau khi đi sứ về cụ bị can gián vào việc khai gian thần tích cho Hoàng Ngũ Phúc nên bị cách chức.

Theo Vietgle - Tri thức Việt

Đại thần Nguyễn Gia Cát đời nhà Nguyễn cũng gọi là Nguyễn Gia Kiết (có tài liệu viết là Nguyễn Định (hay Địch) Cát), không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Huê Cầu, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay là làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).

Năm Đinh Mùi (1787), ông đỗ chế khoa đời Lê Chiêu Thống, khi Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, ông lui về quê.

Năm Quý Hợi (1803), ông được vua Gia Long vời ra làm quan. Ngay sau đó, ông nhận lệnh vua cùng Lê Quang Định và Lê Chính Lộ đi sứ nhà Thanh. Đến Quảng Tây đoàn của ông gặp sứ bộ Ngô Nhân Tịnh, Trịnh Hoài Đức và Hoàng Ngọc Uẩn đã đi từ năm trước (Nhâm Tuất - 1802) nhưng vì gặp bão nên đi tới trễ, hai phái đoàn đã hợp lại để cùng đi sứ sang nhà Thanh.

Khi vào chầu vua Thanh, ông bị hỏi vặn:

– Vua nước ông đặt hiệu năm là Gia Long, có phải nhặt lấy trong hai niên hiệu của thiên triều Gia Khánh và Càn Long không?

Ông đáp:

– Nước chúng tôi từ Trần Lê về trước, Nam Bắc chia đôi nhau mà tự quyết lấy được. Nay vua tôi dấy lên từ Gia Định, thành công ở Thăng Long, nên đặt hiệu là Gia Long.

Vua Thanh rất khâm phục.

Khi về, ông được thăng Tả tham tri Bộ LễTả tham tri Bộ Lễ: Chức quan đặt từ thời Lê thế kỷ XV, coi việc sổ sách quân dân của một đạo. Theo quan chế thời Minh Mạng chức Tả Hữu Tham tri ở dưới Thượng thư, trên Thị lang, trật tòng nhị phẩm văn giai 4/18. Bộ Lễ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo; , ông nổi tiếng văn học, thường cùng nhóm Gia Định tam gia (Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, Trịnh Hoài Đức) giao du thân thiết.
Nguyễn Gia Cát người Yên Giang Kinh Bắc, thi đỗ Tiến sĩ năm 1787 đời Lê Chiêu Thống, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đốc học Quy Nhơn (Đốc học Hoa Xuyên Hầu?), năm 1799 theo hàng,
Tháng 4 năm Canh Thân (1800), lấy hàng thần là Nguyễn Gia Cát, Tiến sĩ nhà Lê, làm Đốc học hầu Đông Cung (Hoàng tử Cảnh)
Năm 1802 lấy hàm Cần Chánh điện học sĩ sung Ất Phó sứ trong sứ bộ Lê Quang Định qua Trung Quốc cầu phong,
... Nhà Nguyễn lại cử Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định làm chánh sứ; Thiêm sự Lại bộ Lê Chính Lộ và Đông các học sĩ Nguyễn Gia Cát làm phó sứ sang Thanh xin cầu phong và đổi quốc hiệu là Nam Việt.
Lúc về được phong Tả Tham tri bộ LễTả tham tri Bộ Lễ: Chức quan đặt từ thời Lê thế kỷ XV, coi việc sổ sách quân dân của một đạo. Theo quan chế thời Minh Mạng chức Tả Hữu Tham tri ở dưới Thượng thư, trên Thị lang, trật tòng nhị phẩm văn giai 4/18. Bộ Lễ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo; , năm 1811 vì tội mạo cấp sắc thần bị cách hết chức tước, kế chết.

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖







KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA TÂN HỢI (1731) ĐẾN KHOA ĐINH MÙI (1787)




黎永慶辛亥科第二甲進士陳名寧嘉定宝篆禮部尚書致仕贈少保管廷油細江花梂翰林侍制第三甲同進士陳名麻嘉定宝篆刑部尚書致仕贈少保楊名澍嘉林樂道侍郎贈尚書郡公對福神。

黎龍德癸丑科第三甲同進士張有條東岸春耕仕至憲使阮輝水+術嘉林富市翰林承旨。

黎永佑丙辰科第三甲同進士陳名濱嘉定蓬池僉都御史贈侍郎。

黎景興癸亥科第三甲同進士黎久僩超類大卯承使贈侍郎。

黎景興丙寅科第二甲進士段澍金花扶魯禮部侍郎侯爵。

景興戊辰科第二甲進士鄭春澍東岸花林奉使東閣大學士第三甲同進士武木+綿善才春蘭會元尚書阮輝胤嘉林富市觧元寺卿阮仲突東岸浮溪侍制致仕黎久伸超類大卯承使贈侍郎。

景興壬申科第三甲同進士阮春暉善才丙東都給事中。

景興甲戌科第三甲同進士楊仲謙嘉林樂道僉都御史楊決嘉林樂道参政贈大學士阮賞東岸雲恬奉使侍郎副都御史。

景興丁丑科第三甲同進士范輝基嘉定東平仕至憲使范璡武寧金堆會元奉使仕至僉都。

景興庚辰科第三甲同進士吳陳植仙遊佛跡觧元大學士阮輝水+堇嘉林富侍會元辞不仕。

景興癸未科第三甲同進士阮堆式安豐望月會元興化鎮守。


景興丙戌科第三甲同進士阮晍仙遊佛跡翰林侍制。

景興己丑科第三甲同進士阮輝濯細江舟梁参知政事黎後杭義死節。

景興乙未科第三甲同進士庭元吳世治東岸會阜奉使宣光督同范廷璵武寧金堆改+心帝迂播邑從援平章事黎維豐安豐香羅参知政事黎末如清迎援後隱守節。

景興戊戌科第三甲同進士庭元阮旳仙遊佛跡京北督同朱久勵東岸育秀海陽参政慇帝迂播有邑從功陛同知樞密院事後□退守節。

景興己亥成科第三甲同進士阮輝鉤細江青溪海陽憲使阮翰嘉林富市高平督同阮廷韶東岸扶昶仕至参同陳輝璉嘉林富市山南参政黎後□隱守節。

景興辛丑科第三甲同進士阮球嘉林安溪會元應制第一。

景興乙己科第三甲同進士阮伯王+闌嘉林古灵會元府尹黎名顯嘉林金+本場觧元。

ChiêuThốngĐinh, chênh, trànhvị, MùiChếKhoaĐệTam, támGiápĐồngChếKhoaNguyễnGiaCátTếGiangHoa CầuLễBộTả, táTham, xam, sâmTri, trí

丁未正科第二甲進士阮登阜+楚嘉定香篆司業為大宗師第二甲進士陳名案嘉定宝篆觧元黎末與黎参知如清迎援蒙援副都御史定岳侯黎後隱遯不出仕第三甲同進士黃阮曙嘉定東平刑部侍郎順亭侯阮登運仙遊懷抱監察御史黎後□隱守節不仕。

奉政科錼自李開科歷朝至後黎末北省凡五百玖拾玖登第李朝壹陳朝捌閏胡叁薊黎歲百難拾叁酆。

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Niên hiệu Vĩnh Khánh thời Lê khoa Tân Hợi
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
TRẦN DANH NINH 陳名寧1 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, làm Thượng thư Bộ Lễ, về trí sĩ, tặng Thiếu bảo.
QUẢN ĐÌNH DU 管廷油2 người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang, làm Hàn lâm Thị chế.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
TRẦN DANH LÂM 陳名霖3 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, làm Thượng thư Bộ Hình, về trí sĩ, tặng Thiếu bảo.
DƯƠNG DANH THỤ 楊名澍4 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm Thị lang, tặng Thượng thư, tước Quận công, phong phúc thần.

Niên hiệu Long Đức thời Lê khoa Quý Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
TRƯƠNG HỮU ĐIỀU 張有條5 người xã Xuân Canh huyện Đông Ngàn, làm quan đến chức Hiến sứ.
NGUYỄN HUY THUẬT 阮輝6 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, làm Hàn lâm Thừa chỉ.

Niên hiệu Vĩnh Hựu thời Lê khoa Bính Thìn
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
TRẦN DANH TÂN 陳名濱7 người xã Bồng Trì huyện Gia Định, làm Đô Ngự sử, tặng Thị lang.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Quý Hợi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
LÊ DOÃN GIẢN 黎允僩8 người xã Đại Mão huyện Siêu Loại, làm Thừa sứ, tặng Thị lang.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Bính Dần
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
ĐOÀN THỤ 段澍9 người xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa, làm Thị lang Bộ Lễ, tước hầu.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Mậu Thìn
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
TRỊNH XUÂN THỤ 鄭春澍10 người xã Hoa Lâm huyện Đông Ngàn, đi sứ, làm Đông các Đại học sĩ.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
VŨ MIÊN 武棉11 người xã Xuân Quan huyện Thiện Tài, đỗ đầu thi Hội, làm Thượng thư.
NGUYỄN HUY DẬN 阮輝胤12 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hương, làm quan Tự khanh.
NGUYỄN TRỌNG ĐỘT 阮仲突13 người xã Phù Khê huyện Đông Ngàn, làm Thị chế, về trí sĩ.
LÊ DOÃN THÂN 黎允伸14 người xã Đại Mão huyện Siêu Loại, làm Thừa sứ, tặng Thị lang.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Nhâm Thân
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN XUÂN HUY 阮春暉15 người xã Nhuế Đông huyện Thiện Tài, làm Đô Cấp sự trung.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Giáp Tuất
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
DƯƠNG TRỌNG KHIÊM  楊仲謙16 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm Đô Ngự sử.
DƯƠNG SỬ 楊史17 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm Tham chính, tặng Đại học sĩ.
NGUYỄN THƯỞNG 阮賞18 người xã Vân Điềm huyện Đông Ngàn, đi sứ, làm Thị lang, Phó Đô Ngự sử.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Đinh Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
PHẠM HUY CƠ 笵暉基19 người xã Đông Bình huyện Gia Định, làm quan đến chức Hiến sứ.
PHẠM TIẾN 笵璡20 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, đỗ đầu thi Hội, đi sứ, làm quan đến chức Thiêm đô.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Canh Thìn
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGÔ TRẦN THỰC 吳陳植21 người xã Phật Tích huyện Tiên Du, đỗ đầu thi Hương, Đại học sĩ.
NGUYỄN HUY CẨN 陳輝22 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hương, sau từ quan.


Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Quý Mùi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN DUY THỨC 阮惟式23 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong, đỗ đầu thi Hội, làm Trấn thủ Hưng Hoá.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Bính Tuất
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN QUÝNH 阮囧24 người xã Phật Tích huyện Tiên Du, làm Hàn lâm Thị chế.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Kỷ Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN HUY TRẠC 阮暉濯25 người xã Đan Nhiệm huyện Tế Giang, làm Tham tri Chính sự, sau tử tiết.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Ất Mùi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGÔ THẾ TRỊ 吳世治26 người xã Hội Phụ huyện Đông Ngàn, đi sứ, Đốc đồng Tuyên Quang.
PHẠM ĐÌNH DƯ 笵廷璵27 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, khi vua chạy loạn, ông đi theo có công, làm Bình chương sự.
LÊ DUY ĐẢN 黎惟亶28 người xã Hương La huyện Yên Phong, làm Tham tri Chính sự, từng đi đón quân Thanh, sau ở ẩn để giữ danh tiết.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Mậu Tuất
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ Đình nguyên:
NGUYỄN DUÂN 阮昀29 người xã Phạt Tích huyện Tiên Du, làm Đốc đồng Kinh Bắc.
CHU DOÃN LỆ 朱允勵30 người xã Dục Tú huyện Đông Ngàn, làm Tham chính Hải Dương, khi vua chạy loạn, ông đi theo có công, thăng Đồng tri Khu mật viện sự.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Kỷ Hợi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN HUY QUÂN 阮輝鈞31 người xã Thanh Khê huyện Tế Giang, làm Hiến sứ Hải Dương.
NGUYỄN HÀN 阮翰32 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, làm Đốc đồng Cao Bằng.
NGUYỄN ĐÌNH THIỀU 阮廷韶33 người xã Phù Ngàn huyện Đông Ngàn, làm quan đến Tham đồng.
NGUYỄN HUY LIỄN 阮輝璉34 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm, làm Tham chính Sơn Nam, sau ở ẩn để giữ danh tiết.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa Tân Sửu
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN CẦU 阮球35 người xã Yên Khê huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hội.

Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê khoa t Tị
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
NGUYỄN BÁ LAN 阮伯36 người xã Cổ Linh huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hội, làm Phủ doãn.
LÊ DANH HIỂN 黎名顯37 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm, đỗ đầu thi Hương.

Niên hiệu Chiêu Thống thời Lê khoa Đinh Mùi
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
 Đinh Mùi chính khoa
Đệ nhị giáp Tiến sĩ:
NGUYỄN ĐĂNG SỞ 阮登39 người xã Hương Triện huyện Gia Định, làm Tư nghiệp, tôn là Đại sư.
TRẦN DANH ÁN 陳名案 40 người xã Bảo Triện huyện Gia Định, đỗ đầu thi Hương, cùng Lê Tham tri đi đón quân Thanh, làm Phó Đô Ngự sử, tước Định Nhạc hầu. Sau ở ẩn không chịu làm quan.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:
HOÀNG NGUYỄN THỰ 黃阮曙41 người xã Đông Bình huyện Gia Định, làm Thị lang Bộ Hình, tước Thuận Đình hầu.
NGUYỄN ĐĂNG VẬN 阮登運42 người xã Hoài Bão huyện Tiên Du, làm Giám sát Ngự sử. Sau ở ẩn giữ danh tiết, không ra làm quan.

Từ triều Lý khai khoa thi, trải đến triều Lê mạt, tỉnh Bắc Ninh có 599. vị đăng khoa (chúng tôi cộng chỉ được 598. vị): triều Lý 1. người, triều Trần 8. người, Nhuận Hồ 3. người, Tiền Lê 243. người, Nhuận Mạc 170. người, Hậu Lê 174. người.

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Chú thích:

1. Trần Danh Ninh: Xem chú thích số 4, Bia số 65.

2. Quản Đình Du: Xem chú thích số 6, Bia số 65.

3. Trần Danh Lâm: Xem chú thích số 11, Bia số 65.

4. Dương Danh Thụ: Xem chú thích số 14, Bia số 65.

5. Trương Hữu Điều: Xem chú thích số 16, Bia số 66.

6. Nguyễn Huy Thuật: Xem chú thích số 20, Bia số 66.

7. Trần Danh Tân: Xem chú thích số 12, Bia số 67.

8. Lê Doãn Giản: Xem chú thích số 8, Bia số 69.

9. Đoàn Thụ: Xem chú thích số 2, Bia số 70.

10. Trịnh Xuân Thụ: Xem chú thích số 3, Bia số 71.

11. Vũ Miên: Xem chú thích số 4, Bia số 71.

12. Nguyễn Huy Dận: Xem chú thích số 5, Bia số 71.

13. Nguyễn Trọng Đột: Xem chú thích số 7, Bia số 71.

14. Lê Doãn Thân: Xem chú thích số 12, Bia số 71.

15. Nguyễn Xuân Huy: Xem chú thích số 8, Bia số 72.

16. Dương Trọng Khiêm: Xem chú thích số 3, Bia số 73.

17. Dương Sử: Xem chú thích số 4, Bia số 73.

18. Nguyễn Thưởng: Xem chú thích số 9, Bia số 73.

19. Phạm Huy Cơ: Xem chú thích số 3, Bia số 74.

20. Phạm Tiến: Xem chú thích số 4, Bia số 74.

21. Ngô Trần Thực: Xem chú thích số 2, Bia số 75.

22. Nguyễn Huy Cẩn: Xem chú thích số 6, Bia số 75.

23. Nguyễn Duy Thức: Xem chú thích số 4, Bia số 76.

24. Nguyễn Quýnh: Xem chú thích số 8, Bia số 77.

25. Nguyễn Huy Trạc: Xem chú thích số 7, Bia số 78.

26. Ngô Thế Trị: Xem chú thích số 1, Bia số 80.

27. Phạm Đình Dư: Xem chú thích số 9, Bia số 80.

28. Lê Duy Đản: Xem chú thích số 12, Bia số 80.

29. Nguyễn Duân: Xem chú thích số 1, Bia số 81.

30. Chu Doãn Lệ: Chính là Chu Doãn Mại. Xem chú thích số 3, Bia số 81.

31. Nguyễn Huy Quân: Xem chú thích số 5, Bia số 82.

32. Nguyễn Hàn: Xem chú thích số 6, Bia số 82.

33. Nguyễn Đình Thiều: Xem chú thích số 7, Bia số 82.

34. Nguyễn Huy Liễn: Bia Văn miếu Hà Nội ghi là Trần Huy Liễn. Xem chú thích số 12, Bia số 82.




35. Nguyễn Cầu (1747-?) người xã Yên Khê huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Yên Thường huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ đầu thi Hội, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 42. (1781) đời vua Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Đông các Hiệu thư, đầu thời Gia Long (1802) được bổ chức Đốc học Hưng Hoá.

36. Nguyễn Bá Lan (1757-?) người xã Cổ Linh huyện Gia Lâm (nay thuộc thị trấn Sài Đồng quận Long Biên Tp. Hà Nội), đỗ đầu thi Hội, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46. (1785) đời vua Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Phủ doãn phủ Phụng Thiên, tước Lâm Trạng bá. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc (1788), ông đến yết kiến và được trao chức Hàn lâm Trực học sĩ.

37. Lê Danh Hiển (1757-?) người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Bát Tràng huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ đầu thi Hương, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46. (1785) đời Lê Hiển Tông. Ông làm quan đến chức Đề hình Giám sát Ngự sử, Đốc đồng Thanh Hoa. Sau ông ra làm quan triều Tây Sơn, đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ, tước Gia Phái hầu.

38. Nguyễn Gia Cát (1760-?) hiệu Địch Hiên Địch Hiên người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông xuất thân Nho sinh trúng thức, đỗ đồng Chế khoa xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời Lê Mẫn Đế. Ông làm quan với triều Tây Sơn đến Đốc học Bắc Thành. Sau lại làm quan với nhà Nguyễn đến chức Tả Tham tri Bộ LễTả tham tri Bộ Lễ: Chức quan đặt từ thời Lê thế kỷ XV, coi việc sổ sách quân dân của một đạo. Theo quan chế thời Minh Mạng chức Tả Hữu Tham tri ở dưới Thượng thư, trên Thị lang, trật tòng nhị phẩm văn giai 4/18. Bộ Lễ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo; , tước Quỳ Giang hầu và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc).

39. Nguyễn Đăng Sở (1754-1840) người xã Hương Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Nhân Thắng huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ thi Hương, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Đời Lê Chiêu Thống, ông làm đến chức Hàn lâm viện Hiệu lý, tước Hương Lĩnh bá. Sau ông ra làm quan với triều Tây Sơn, đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, tước Gia Định hầu.

40. Trần Danh Án (1755-1794) hiệu là Liễu Am 柳 庵 người xã Bảo Triện huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ đầu thi Hương, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông cùng nội thần hộ giá vua chạy. Sau ở ẩn, rồi lại cùng một số người như Trần Quang Chân, Dương Đình Tuấn dấy quân chống lại Tây Sơn. Khi được tin Chiêu Thống chết, ông đứng quay về phương Bắc ngửa cổ lên trời vừa lạy vừa khóc rồi sinh bệnh nặng mà chết.

41. Hoàng Nguyễn Thự (1749-1801) tự là Đông Hy 東 晞, hiệu là Nghệ Điền 藝 người xã Đông Bình huyện Gia Định (nay thuộc xã Xuân Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Trước khi đi thi, ông làm Tri huyện. Sau, ông ra làm quan với triều Tây Sơn giữ các chức Tả Thị lang Bộ Hình, Hiệp trấn Lạng Sơn, tước Thuận Đình hầu. Có tài liệu chép là Hoàng Xuân Thự.

42. Nguyễn Đăng Vận (1750-?) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1. (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Đời Lê Chiêu Thống, ông được trao cho chức Binh khoa Cấp sự trung. Khi Tây Sơn ra Bắc, triệu ông ra hầu, ông bèn nhịn ăn mà chết.



TOP


TOP

0 nhận xét:

Post a Comment