Xuân Cầu

Sunday, February 22, 2026

Giới thiệu chung

Làng Xuân Cầu là một làng có từ lâu đời ở xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Xuân Cầu, xưa kia còn có tên gọi là Hoa Cầu, Huê Cầu, Xuân Kỳ. Làng có từ đời nhà Đường, trong làng còn có 4 giếng đá kiểu Trung Quốc. Đời vua Thiệu Trị, vì kỵ húy đổi là Xuân Kỳ nhưng nhân dân quen dùng tên cũ, mà đọc chệch đi là Huê Cầu. Làng có nghề nhuộm thâm từng đi vào ca dao cổ tích, và món đặc sản là bánh mỡ nổi tiếng. Nhưng gần đây đã thất truyền và trong làng, những di tích xưa cũng không còn.

Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền.

 


Đặc sản:

Bánh Xuân Cầu

Bánh Xuân cầu là loại bánh rán mỡ thường được dùng rất phổ biến tại miền Bắc xưa kia, nay đã mai một [2]. Bánh vuông bằng hai ngón tay và mỏng như tờ giấy bản, được bỏ vào chảo chiên phồng, nở phồng với nhiều màu sắc tươi đẹp, ăn với mật ong, có vị ngọt, béo, bùi và thơm [2].

Vải thâm Xuân Cầu

Theo truyền thuyết thì nghề nhuộm vải thâm ở Huê Cầu (Xuân Cầu) cũng có ngót nghét 2.000 năm [1]. Thuốc nhuộm là củ nâuCủ nâu - Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu - Dioscoreaceae.

Mô tả: Dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn. Hoa mọc thành bông. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh.

Bộ phận dùng: Củ - Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae, thường có tên là Thự lương.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Là cây thường dùng để nhuộm vải lưới cho có màu nâu bền. Cũng dùng để thuộc da. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng. Củ nâu dọc trai dùng nhuộm tốt hơn.

Thành phần hoá học: Củ chứa nhiều tanin catechic (đến 6,4%) và có tinh bột.

Tính vị, tác dụng: Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết, cầm ỉa.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngoài việc dùng để nhuộm. Củ nâu có thể dùng ăn. Người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn. Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ. Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa: 1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh; 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.
, đun trong nước lá sòiSòi - Sòi, Sòi xanh - Sapium sebiferum (L.) Roxb., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Mô tả: Cây gỗ rụng lá cao 6-15m. Lá mọc so le, hình quả trám, dài 3-7cm, chóp lá thuôn nhọn, cuống lá dài có tuyến. Hoa đơn tính, màu trắng vàng hay vàng, mọc thành bông ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa cái nhiều, ở gốc, hoa đực ở trên. Hoa đực có đài hình đầu phân thuỳ hoặc có răng, nhị 2, bao phấn gần hình cầu. Hoa cái có đài hợp, 2-3 thuỳ và nhuỵ 3, bầu hình trứng có 3 ô. Quả hạch hình cầu có 3 hạt.

Cây ra hoa tháng 6-8, quả tháng 10-11.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá, hạt - Cortex Radicis, Cortex et Folium Sapii Sebiferi. Vỏ rễ thường có tên là Ô cữu căn bì

Nơi sống và thu hái: Cây của Ðông Á châu ôn đới và cận nhiệt đới, mọc hoang ở vùng đồi núi. Có khi được trồng làm cây cảnh. Thu hái vỏ rễ và vỏ cây quanh năm, thái nhỏ và phơi khô. Lá thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Vỏ rễ chứa xanthoxylin, acid tanic.

Tính vị, tác dụng: Sòi có vị đắng, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng sát trùng, giải độc, lợi niệu, thông tiện, tiêu thũng, trục thuỷ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa:
1. Phù thũng, giảm niệu, táo bón;
2. Bệnh sán máng, cổ trướng, xơ gan;
3. Viêm gan siêu vi trùng;
4. Ngộ độc nhân ngôn;
5. Rắn độc cắn.

Thân và lá dùng chữa viêm mủ da, ngứa lở thấp chẩn, chai cứng. Dùng vỏ rễ 3-6g, lá 9-15g, đun sôi lấy nước uống. Giã lá tươi để đắp ngoài, hoặc nấu nước để rửa.

Ở Vân Nam (Trung Quốc) còn được dùng trị tiểu tiện không thông, viêm âm đạo.

Ðơn thuốc:
1. Phù thũng, Rễ Sòi tươi, lấy màng thứ nhì 15g, đường 15g, đun sôi lấy nước uống.
2. Bệnh sán máng: Lá Sòi 8-30g, sắc uống. Dùng liền trong 20-30 ngày.
3. Phù thũng, cổ trướng, đại tiện không thông, ứ nước hoặc bí đầy, ăn uống không xuôi: Màng rễ Sòi (lớp trắng ở trong), Mộc thông, hạt Cau, mỗi vị 12g, sắc uống.
4. Ngộ độc: Lá Sòi 1 nắm giã nhỏ, chế nước vào, vắt lấy nước cốt uống.
(một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải có mầu đen thâm, không phai và tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí [1].


Danh nhân Làng Xuân Cầu

Làng Xuân Cầu còn có nhiều Danh nhân như: Họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà cách mạng Tô Hiệu, nhà cách mạng Lê Văn Lương.

Tham khảo

  1. Vải nhuộm thâm làng Huê Cầu
  2. Vũ Bằng - Miếng ngon Hà Nội, bánh Xuân Cầu
  3. Thịt chuột ký sự
  4. Đặc sản bánh Xuân Cầu của làng đã bị mai một



Mời xem các bài về Xuân Cầu



Video Làng Xuân Cầu


Truyền hình Hưng Yên - HYTV




Bảo tàng lịch sử quốc gia khai mạc trưng bày chuyên đề “Bình dân học vụ - Thắp sáng tương lai”

Monday, February 9, 2026

Bảo tàng lịch sử quốc gia khai mạc trưng bày chuyên đề “Bình dân học vụ - Thắp sáng tương lai”



Sáng ngày 22/8, tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (BTLSQG) số 216 Trần Quang Khải, Hà Nội tổ chức Lễ Khai mạc trưng bày chuyên đề “Bình dân học vụ - Thắp sáng tương lai”. Trưng bày là hoạt động thiết thực nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2025).


Trưng bày giới thiệu gần 160 hiện vật, tài liệu, hình ảnh tiêu biểu gồm: Chủ trương, chính sách của Đảng; thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ, giáo viên và học viên; sưu tập nguyệt san, đặc san, nội san của các cơ quan Bình dân học vụ tại một số địa phương; đồ dùng học tập, tài liệu giảng dạy, cùng sưu tập báo chí, tranh cổ động… liên quan đến phong trào Bình dân học vụ được thể hiện qua ba phần:

Phần 1: Diệt giặc dốt - Cuộc chiến không tiếng súng
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước non trẻ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, vận mệnh dân tộc ở thế "ngàn cân treo sợi tóc", trong đó nổi lên ba thách thức lớn là "giặc đói", "giặc dốt" và giặc ngoại xâm. Chủ trương của Đảng, Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh mở chiến dịch chống nạn mù chữ và đã được toàn dân đồng tình, hưởng ứng.

Tài liệu, hiện vật trưng bày của phần 1 bao gồm:
Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2/9/1945;
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, ngày 3/9/1945;
Nhóm tài liệu, hiện vật giới thiệu sự ra đời phong trào Bình dân học vụ: Lời kêu gọi, sắc lệnh, thư...


Phần 2: Ánh sáng tri thức lan tỏa
Phong trào "Bình dân học vụ" do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động là biểu tượng của lòng quyết tâm, ý chí, tinh thần đoàn kết giúp người dân thoát khôi mù chữ, tiệp cận tri thức. Phong trào đã được toàn dân đồng tình hưởng ứng, diễn ra khắp nơi trên cả nước, dấy lên phong trào học chữ quốc ngữ phát triển ngày càng rộng khắp từ Bắc vào Nam, từ thành thị đến nông thôn, miền núi.

Kết quả phong trào Bình dân học vụ khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyết tâm tiêu diệt "giặc dốt". Đồng thời thể hiện tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc trong xây dựng nền giáo dục mới để phục vụ kháng chiến, kiến quốc.

Tài liệu, hiện vật trưng bày của phần 2 bao gồm:
Một số văn bản thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xóa bỏ "giặc dốt", coi đây là một phần thiết yếu của sự nghiệp cách mạng và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, tiến bộ;
hình ảnh phong trào Bình dân học vụ trên toàn quốc từ Bắc vào Nam;
Dụng cụ giảng dạy, tài liệu giảng dạy (bảng, sách, bút...);
dụng cụ học tập, tài liệu học tập (bàn, ghế, đèn, bút, vở học...);
tặng phẩm của các Ty, lớp, học viên Bình dân học vụ kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đồng thời là các tài liệu:
Sưu tập huân, huy chương, cờ, bằng khen tặng các tổ chức, cá nhân trong phong trào Bình dân học vụ;
Sưu tập các báo, sách, nội san, nguyệt san về Bình dân học vụ;
Sưu tập thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh đạo Ty Bình dân học vụ... gửi Nha Bình dân học vụ, giáo viên và anh, chị em học sinh;
Sưu tập tranh cổ động về phong trào Bình dân học vụ.

Phần 3: Từ Bình dân học vụ đến Học tập suốt đời.
Trong chiến tranh cũng như thời bình, trên nền tảng truyền thống hiếu học, nhân dân ta kiên trì xóa mù chữ, xây dựng nền giáo dục đại chúng. Phong trào Bình dân học vụ không chỉ góp phần diệt "giặc dốt" mà còn để lại di sản tinh thần quý báu, trở thành nền tảng cho các phong trào học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập ngày nay. Tinh thần ấy tiếp tục được lan tỏa mạnh mẽ trong kỷ nguyên số với phong trào "Bình dân học vụ số" phổ cập kiến thức, kỹ năng số đến mọi tầng lớp nhân dân, góp phần bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Tài liệu, hiện vật trưng bày tại phần 3 bao gồm:
Hình ảnh tiêu biểu của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác chỉ đạo các phong trào: xây dựng xã hội học tập; học tập suốt đời; phong trào Bình dân học vụ số...;
Nhóm hiện vật là sản phẩm sáng tạo của sinh viên Lab EDABK của Trường Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội.

Đặc biệt trong trưng bày lần này, hầu hết tài liệu, hiện vật quý, có giá trị đều là những hiện vật lần đầu tiên được giới thiệu tới công chúng, tiêu biểu như:
Thư khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi toàn thể bộ đội khu 2 và khu 3 về thành tích xoá nạn mù chữ, ngày 24/2/1948;
Sách “Phương pháp và cách thức dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ”- Bình dân học vụ Hà Nội, xuất bản năm 1946;
Đặc san “Bình dân học vụ” - Nha Bình dân học vụ Trung Bộ xuất bản, năm 1947 ghi lại danh tính, chức vụ và quê quán của 17 liệt sĩ Bình dân học vụ đã hy sinh trong hai năm 1946 - 1947;
Lời hiệu triệu của Tổng Giám đốc Nha Bình dân học vụ, ngày 8/ 9/1949;
Huy hiệu của chiến sĩ cách mạng bị giam ở nhà tù Côn Đảo vẽ và in, để cổ động tham gia phong trào Bình dân học vụ trong tù, năm 1951;
Sưu tập dụng cụ học tập của học sinh;
Sổ ghi cảm tưởng của các đồng chí lãnh đạo và nhân sĩ trí thức về công tác Bình dân học vụ;
Bằng chứng nhận “Gia đình thanh toán mù chữ”;
Sản phẩm công nghệ của nhóm sinh viên Lab EDABK của Trường Điện - Điện tử (Đại học Bách khoa Hà Nội) nghiên cứu và phát triển...

Trưng bày “Bình dân học vụ- thắp sáng tương lai” đã tái hiện lại bối cảnh đất nước trong những ngày đầu giành độc lập của 80 năm về trước; với tầm nhìn sâu rộng cùng khát vọng khai sáng cho toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào Bình dân học vụ. Vượt qua nhiều gian khổ thiếu thốn, những mất mát hy sinh, công cuộc xóa nạn mù chữ đã đạt được thành quả to lớn giúp cho hàng triệu người biết đọc, biết viết, hiểu được quyền lợi và bổn phận của mình để tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Thành quả đó là nền tảng tiếp cận tri thức, trở thành ngọn đuốc soi đường, hun đúc ý chí và khát vọng vươn lên của dân tộc. Phát biểu tại Lễ khai mạc TS. Nguyễn Văn Đoàn, nhấn mạnh: Qua từng tư liệu, hiện vật, câu chuyện, công chúng sẽ cảm nhận được khát vọng học tập, tinh thần hiếu học và niềm tin bền bỉ vào sức mạnh của tri thức - từ những con chữ đầu tiên năm xưa đến ngọn lửa học tập đang được tiếp nối trong phong trào “Bình dân học vụ số” hôm nay. Đó cũng là lời tri ân sâu sắc gửi tới những người thầy, người dạy và người học đã góp phần đưa hàng triệu người Việt Nam thoát khỏi bóng tối mù chữ, tạo nền móng tri thức cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Ngày nay, trong kỷ nguyên số, tinh thần ấy đang được viết tiếp bằng “Bình dân học vụ số” - hành trình khai mở dân trí bằng ánh sáng của dữ liệu, kết nối và công nghệ thông minh.

Trưng bày giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về phong trào Bình dân học vụ cách đây 80 năm và "Bình dân học vụ số" hiện nay như những thời khắc lịch sử đặc biệt quan trọng. Đó là hành trình kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về "học để làm việc, làm người, học để phụng sự giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại". Từ đó, khơi dậy tinh thần hiếu học, khát vọng học tập và niềm tin bền bỉ vào sức mạnh của tri thức - từ những con chữ đầu tiên năm xưa đến ngọn lửa học tập đang được tiếp nối hôm nay.