Xuân Cầu

Thursday, December 31, 2020

Giới thiệu chung

Làng Xuân Cầu là một làng có từ lâu đời ở xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Xuân Cầu, xưa kia còn có tên gọi là Hoa Cầu, Huê Cầu, Xuân Kỳ. Làng có từ đời nhà Đường, trong làng còn có 4 giếng đá kiểu Trung Quốc. Đời vua Thiệu Trị, vì kỵ húy đổi là Xuân Kỳ nhưng nhân dân quen dùng tên cũ, mà đọc chệch đi là Huê Cầu. Làng có nghề nhuộm thâm từng đi vào ca dao cổ tích, và món đặc sản là bánh mỡ nổi tiếng. Nhưng gần đây đã thất truyền và trong làng, những di tích xưa cũng không còn.

Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền.

 


Đặc sản:

Bánh Xuân Cầu

Bánh Xuân cầu là loại bánh rán mỡ thường được dùng rất phổ biến tại miền Bắc xưa kia, nay đã mai một [2]. Bánh vuông bằng hai ngón tay và mỏng như tờ giấy bản, được bỏ vào chảo chiên phồng, nở phồng với nhiều màu sắc tươi đẹp, ăn với mật ong, có vị ngọt, béo, bùi và thơm [2].

Vải thâm Xuân Cầu

Theo truyền thuyết thì nghề nhuộm vải thâm ở Huê Cầu (Xuân Cầu) cũng có ngót nghét 2.000 năm [1]. Thuốc nhuộm là củ nâuCủ nâu - Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu - Dioscoreaceae.

Mô tả: Dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn. Hoa mọc thành bông. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh.

Bộ phận dùng: Củ - Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae, thường có tên là Thự lương.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Là cây thường dùng để nhuộm vải lưới cho có màu nâu bền. Cũng dùng để thuộc da. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng. Củ nâu dọc trai dùng nhuộm tốt hơn.

Thành phần hoá học: Củ chứa nhiều tanin catechic (đến 6,4%) và có tinh bột.

Tính vị, tác dụng: Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết, cầm ỉa.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngoài việc dùng để nhuộm. Củ nâu có thể dùng ăn. Người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn. Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ. Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa: 1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh; 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.
, đun trong nước lá sòiSòi - Sòi, Sòi xanh - Sapium sebiferum (L.) Roxb., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Mô tả: Cây gỗ rụng lá cao 6-15m. Lá mọc so le, hình quả trám, dài 3-7cm, chóp lá thuôn nhọn, cuống lá dài có tuyến. Hoa đơn tính, màu trắng vàng hay vàng, mọc thành bông ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa cái nhiều, ở gốc, hoa đực ở trên. Hoa đực có đài hình đầu phân thuỳ hoặc có răng, nhị 2, bao phấn gần hình cầu. Hoa cái có đài hợp, 2-3 thuỳ và nhuỵ 3, bầu hình trứng có 3 ô. Quả hạch hình cầu có 3 hạt.

Cây ra hoa tháng 6-8, quả tháng 10-11.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá, hạt - Cortex Radicis, Cortex et Folium Sapii Sebiferi. Vỏ rễ thường có tên là Ô cữu căn bì

Nơi sống và thu hái: Cây của Ðông Á châu ôn đới và cận nhiệt đới, mọc hoang ở vùng đồi núi. Có khi được trồng làm cây cảnh. Thu hái vỏ rễ và vỏ cây quanh năm, thái nhỏ và phơi khô. Lá thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Vỏ rễ chứa xanthoxylin, acid tanic.

Tính vị, tác dụng: Sòi có vị đắng, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng sát trùng, giải độc, lợi niệu, thông tiện, tiêu thũng, trục thuỷ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa:
1. Phù thũng, giảm niệu, táo bón;
2. Bệnh sán máng, cổ trướng, xơ gan;
3. Viêm gan siêu vi trùng;
4. Ngộ độc nhân ngôn;
5. Rắn độc cắn.

Thân và lá dùng chữa viêm mủ da, ngứa lở thấp chẩn, chai cứng. Dùng vỏ rễ 3-6g, lá 9-15g, đun sôi lấy nước uống. Giã lá tươi để đắp ngoài, hoặc nấu nước để rửa.

Ở Vân Nam (Trung Quốc) còn được dùng trị tiểu tiện không thông, viêm âm đạo.

Ðơn thuốc:
1. Phù thũng, Rễ Sòi tươi, lấy màng thứ nhì 15g, đường 15g, đun sôi lấy nước uống.
2. Bệnh sán máng: Lá Sòi 8-30g, sắc uống. Dùng liền trong 20-30 ngày.
3. Phù thũng, cổ trướng, đại tiện không thông, ứ nước hoặc bí đầy, ăn uống không xuôi: Màng rễ Sòi (lớp trắng ở trong), Mộc thông, hạt Cau, mỗi vị 12g, sắc uống.
4. Ngộ độc: Lá Sòi 1 nắm giã nhỏ, chế nước vào, vắt lấy nước cốt uống.
(một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải có mầu đen thâm, không phai và tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí [1].


Danh nhân Làng Xuân Cầu

Làng Xuân Cầu còn có nhiều Danh nhân như: Họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà cách mạng Tô Hiệu, nhà cách mạng Lê Văn Lương.

Tham khảo

  1. Vải nhuộm thâm làng Huê Cầu
  2. Vũ Bằng - Miếng ngon Hà Nội, bánh Xuân Cầu
  3. Thịt chuột ký sự
  4. Đặc sản bánh Xuân Cầu của làng đã bị mai một



Mời xem các bài về Xuân Cầu



Video Làng Xuân Cầu


Truyền hình Hưng Yên - HYTV




Nghệ sỹ Xuân Hinh dâng văn 775 năm ngày sinh Thành hoàng làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ

Sunday, November 10, 2019

Nghệ sỹ Xuân Hinh dâng văn 775 năm ngày sinh Thành hoàng làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ



Nguồn: Dat Tuan - YouTube - 10/11/2019

Bí ẩn về số 7 trong lòng hai giếng cổ hơn 1.200 năm tuổi ở Hưng Yên

Thursday, October 10, 2019

Theo Triệu Quang – Hoàn Như



Kích thước của những viên gạch và cối đá xếp trong lòng 2 giếng cổ ở Hưng Yên đều liên quan đến con số 7 khiến người dân khó lý giải.
Con số 7 kỳ lạ trong lòng giếng cổ

Trải qua cả ngàn năm, 2 chiếc giếng cổ ở thôn Tam Kỳ (xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên) nước vẫn đầy ắp và trong vắt. Tuy nhiên, người dân hiện nay đã không còn sử dụng phổ biến như ngày xưa do đã có nước máy.


Giếng cổ Cổng Đồng nằm ở vệ đường lớn, gần với cổng làng và ao đình


Chiếc giếng Cổng Đồng hơn 1.200 tuổi từng bị lấp đã được người dân khôi phục và bảo vệ cẩn thận. Giếng Đình Ba hơn 1.300 tuổi nằm trong khuôn viên của một gia đình thì vẫn được gia đình này sử dụng và gìn giữ.

Có một điều mà người dân Tam Kỳ lấy làm lạ, đó là những viên gạch và cối đá quanh lòng giếng đều liên quan đến số 7. Gạch có 14 viên thì viên nào cũng có chiều dày 7cm, chiều ngang 17cm và dài là 27cm; cối đá có 11 chiếc, chiếc nào cũng cao 17cm, đáy 27cm và miệng là 37cm.

Chúng tôi trao đổi với GS sử học Lê Văn Lan – người góp công khôi phục giếng cổ này nhưng ông cho hay, ông chỉ là người làm lịch sử và góp phần khôi phục lại chiếc giếng cổ Cổng Đồng chứ không biết gì về những điều liên quan đến con số 7 trong gạch và cối đá dưới lòng giếng.

“Tôi chỉ chỉ biết giếng đó là một vết tích từ thời thực dân địa của Trung Quốc chứ tôi không hiểu biết về phong thủy hay bói toán nên không biết con số 7 có ý nghĩa gì”, GS Lan cho biết.


Những viên gạch và cối đá xếp trong lòng giếng đều có kích thước liên quan đến số 7 khó lý giải


Ông Đặng Xuân Chính –người làng Tam Kỳ bỏ nhiều công sức tìm hiểu về chiếc giếng cổ cũng chưa thể lý giải được vì sao các cụ ngày xưa lại lấy con số 7 để đưa vào kích thước các viên gạch, cối đá dưới giếng.

“Tôi cho rằng, ngày xưa các cụ coi số 7 là con số may mắn nên làm gạch và cối đá đều liên quan đến con số 7”, ông Chính phỏng đoán.

Ông Chính cho biết thêm, những viên gạch có kích thước liên quan đến số 7 còn gọi là “gạch thất”. Hồi khôi phục lại giếng, ông tìm hiểu thì biết có một gia đình ở Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) vẫn còn lưu giữ khuôn đóng loại gạch này nên đã sang nhờ người ta đóng và bán cho một ít về để xếp dưới giếng.

Chẳng ai hiểu được chính xác ý nghĩa của số 7 trong kích thước của những viên gạch và những cối đá xếp trong lòng 2 giếng cổ thôn Tam Kỳ. Thế nhưng, có một điều người dân nhìn thấy rất rõ ràng, những viên gạch, cối đá xếp so le chồng lên nhau rất vừa khít, chẳng cần phải vôi vữa nhưng đã trường tồn qua cả ngàn năm.

Ông Đặng Xuân Chính –người làng Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên



“Báu vật” của dân làng

Ngày trước khi chưa có nước máy, 2 chiếc giếng cổ ở thôn Tam Kỳ luôn đông đúc, nhộn nhịp người đến tắm giặt, gánh nước sinh hoạt. Mùa mưa, nước dâng cao đến gần miệng có thể dùng gáo múc; mùa cạn giếng cũng chưa bao giờ hết nước.

Ông Chính nhớ hồi còn nhỏ, ông và các bạn cùng trang lứa vẫn ra sân đình chơi hay đi chăn trâu về khát thì vục chiếc nón xuống múc nước nước lên uống.

“Nước rất ngọt và mát, dù uống nước lã nhưng không hề bị đau bụng. Dân làng khi đi làm đồng về qua, dừng chân lại giếng rửa chân tay, mặt mũi thì tỉnh táo cả người”, ông Chính chia sẻ.

Có năm hạn hán lớn, ao hồ nhiều nơi cạn trơ đáy, nhiều giếng khơi của người dân hết nước nhưng tuyệt nhiên, 2 chiếc giếng cổ ở Tam Kỳ vẫn đầy ắp nước. Dân các làng lân cận đến xin nước, xếp hàng lần lượt người này đến người kia múc đầy các thau, chậu, xô, thùng phi… mang về mà giếng chỉ vơi đi chứ không cạn.


Sau khi được khôi phục, người dân bảo vệ những chiếc giếng cổ rất cẩn thận



Người dân còn kể lại rằng, con gái làng ngày xưa tắm bằng nước giếng nhiều nên da dẻ hồng hào, khỏe mạnh; tóc thì suôn mượt, đen như gỗ mun.

Lý giải điều này, ông Chính giải thích: “Quan trọng là nước giếng sạch, không ô nhiễm nên sử dụng nước này sẽ đỡ bệnh tật, da dẻ không có mụn nhọt… Thế nên người dân đồn vậy cũng không có gì sai”.

Được biết, giếng đình Ba còn gắn với di tích Quán Dố - một ngôi miếu cổ thờ Ma Lỗ Đại Vương. Theo lệ làng, cứ đến tháng Sáu âm lịch, dân làng tổ chức lễ rước nước từ giếng về Quán Dố để cầu mưa.

Khi ấy, các cụ cao niên trong làng sẽ khăn áo chỉnh tề, trai tráng thì vác kiệu, vác lọng, bê ché ra trước giếng, xin “Thần giếng” cho nước thiêng về thờ tại Quán Dố, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.


Theo Triệu Quang – Hoàn Như (Dân Việt)

Nguồn: 24h theo Dân Việt - 22/9/2019


Mời xem bài:


“Đôi mắt thần” hơn 1.200 năm tuổi được dân làng Hưng Yên bảo vệ như báu vật

“Đôi mắt thần” hơn 1.200 năm tuổi được dân làng Hưng Yên bảo vệ như báu vật

Giếng cổ Cổng Đồng hơn 1.200 năm tuổi được người dân thôn Tam Kỳ bảo vệ cẩn thận.Giếng cổ Cổng Đồng hơn 1.200 năm tuổi được người dân thôn Tam Kỳ bảo vệ cẩn thận.


Người dân coi đây như “đôi mắt thần”, mang linh khí của làng nên lập ban thờ để hương khói và bảo vệ nghiêm ngặt.


Hai giếng cổ - “Đôi mắt thần” của làng

Làng quê Bắc Bộ xưa kia ghi dấu đậm nét với hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình. Mỗi làng hầu hết đều có một chiếc giếng làng để làm nơi sinh hoạt chung như tắm giặt, phục vụ sinh hoạt, lễ hội…

Thế nhưng thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) không chỉ sở hữu một mà có đến tận 2 chiếc giếng làng. Hai chiếc giếng này có niên đại đã hơn ngàn năm, chiếc cổ nhất hơn 1.300 năm, chiếc còn lại cũng đã hơn 1.200 năm.

Trải qua cả ngàn năm lịch sử, những chiếc giếng làng ở Tam Kỳ vẫn được người dân nơi đây gìn giữ, bảo vệ nên nước trong vắt. Người dân còn lập ban thờ, cúng tế và coi giếng như báu vật của làng. Đến hiện tại, có gia đình vẫn giữ thói quen dùng nước giếng này thay vì dùng nước máy.

Chúng tôi đến thôn Tam Kỳ vào những ngày đầu tháng 9. Như bao làng quên khác, Tam Kỳ cũng bắt đầu đổi mới, đường làng, ngõ xóm đã được trải bê tông phẳng lì.

Ngay đầu làng là phế tích của chiếc cổng làng cũ, rêu phong phủ kín nhưng người dân đã mở một con đường mới ở bên cạnh chứ không bắt buộc phải đi qua cổng làng nữa.

Đi thêm khoảng 100m nữa, chúng tôi bắt gặp một chiếc giếng ở ngay vệ đường to. Miệng giếng rộng khoảng 1m, được gác chắn bằng các thanh sắt và đậy bằng một tấm tôn có khoét lỗ nhỏ. Người dân dành riêng một khu đất để quây lại thành khuôn viên, có tường rào, cây cảnh, ban thờ và bảng chú thích lịch sử.

“doi mat than” hon 1.200 nam tuoi duoc dan lang bao ve nhu bau vat hinh anh 2

Tấm biển ghi lại lịch sử của giếng do Giáo sư sử học Lê Văn Lan gắn


Trên tấm biển gần giếng đề tên Nhà sử học Lê Văn Lan có ghi: “Giếng cổ Cổng Đồng tuổi đã hơn 1.200 năm, có từ thời nhà Đường (thời Bắc thuộc) đã chứng kiến sự ra đời và biến đổi của quê hương ta, từ thuở có tên gốc là làng Hoa Kiều, chuyển thành Hoa Cầu, thay bằng Huê Cầu, rồi đẹp đẽ giờ đây Xuân Cầu.

Là nguồn nước trong lành, mát mẻ, đầy ắp của cuộc sống và sự thịnh vượng quê hương qua các đời nên giếng không thể bị vùi lấp. Vẻ vang thay. Quý giá thay. Những chí hướng, trí tuệ, tấm lòng và công sức của những ai khôi phục, bảo tồn, tôn tạo nơi “tụ Thủy như tụ Nhân” này”.

Cách chiếc giếng cổ này khoảng 200m là một chiếc giếng cổ khác mà theo người dân, nó có tuổi đời đã hơn 1.300 năm. Chiếc giếng nằm trong khuôn viên của một gia đình, cũng được bảo vệ bằng những thanh sắt và có đậy nắp. Gia đình này hiện sinh sống ở Hà Nội, thỉnh thoảng về quê chơi và vẫn sử dụng nước giếng để sinh hoạt.

“doi mat than” hon 1.200 nam tuoi duoc dan lang bao ve nhu bau vat hinh anh 3

Giếng Đình Ba tuổi đời hơn 1.300 năm nằm trong khuôn viên của một gia đình

Từng lấp giếng cổ làm đường đi

Thấy chúng tôi tò mò quanh chiếc giếng, ông Tô Xuân Lực – một người dân thôn Tam Kỳ ra tiếp chuyện. Theo ông Lực, từ khi ông sinh ra đã thấy chiếc giếng tồn tại ở vị trí ấy. Ngày xưa, dân làng ra giếng sinh hoạt, lấy nước về ăn nhộn nhịp mà giếng không khi nào hết nước.

Khoảng hơn 30 năm về trước, một con trâu bị ngã xuống giếng, người dân phải phá miệng giếng để cứu con trâu lên. Cũng sau vụ việc ấy, người dân Tam Kỳ đã lấp luôn chiếc giếng cổ hơn 1.200 tuổi, sau làm đường đi đè lên.

Chỉ khi được nhà sử học Lê Văn Lan về thông tin, người dân Tam Kỳ mới biết được giá trị lịch sử của chiếc giếng nên đã lên kế hoạch khôi phục, gìn giữ và bảo vệ.

Chiếc giếng nằm trong phần đất nhà ông Lực. Khoảng năm 2013, ông đã dành khoảng hơn 10m2 đất của gia đình để dân làng khôi phục lại giếng và xây khuôn viên, lập ban thờ cúng bái “Thần giếng”.

“Biết được giá trị lịch sử của chiếc giếng nên khi biết mọi người có ý định khôi phục lại, tôi sẵn sàng hiến đất cho làng. Đá xanh được mang từ Thanh Hóa về và thuê chính những người thợ Thanh Hóa về khôi phục giếng. Những người thợ khi biết giá trị của chiếc giếng cũng đã không lấy tiền công”, ông Lực chia sẻ.

“doi mat than” hon 1.200 nam tuoi duoc dan lang bao ve nhu bau vat hinh anh 4

Ông Đặng Xuân Chính –người làng Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên.


Ông Đặng Xuân Chính –người làng Tam Kỳ bỏ nhiều công sức tìm hiểu về chiếc giếng cổ cho hay, giếng cổ tuy không còn nguyên bản nữa nhưng khôi phục lại được là điều rất quý giá và ông rất mừng về điều này.

Theo ông Chính, chiếc giếng hơn 1.200 tuổi còn có tên gọi là giếng Cổng Đồng, còn chiếc giếng hơn 1.300 tuổi tên là giếng Đình Ba. Chiếc giếng Đình Ba cổ và nước còn trong hơn giếng Cổng Đồng. Giếng ngày xưa là nơi sinh hoạt không chỉ một làng mà cả 3 làng ở xã Nghĩa Trụ gồm Tam Kỳ, Phúc Thọ, Lê Cao.

Thế nên người dân nơi đây vẫn truyền nhau những câu thơ: “Giữa làng có giếng đình Ba. Giếng xây bằng đá nước thời trong veo. Tam thôn không có người nghèo. Nếu muốn lịch sử thì theo anh về” hay “Tam thôn ăn nước giếng thơi. Giếng xây bằng đá nước thời trong veo” hay”.

“Người dân đến lấy nước sinh hoạt thường xuyên, có những phiến đá người dân dùng để chà khi giặt quần áo nhẵn thín. Miệng giếng có những phiến đá lõm sâu vào 1-2cm do người dân dùng dây thừng và gầu kéo nước lên…”, ông Chính nhớ lại.

“doi mat than” hon 1.200 nam tuoi duoc dan lang bao ve nhu bau vat hinh anh 5

Lòng giếng được xếp bằng những viên gạch và cối đá xanh có kích thước đều liên quan đến con số 7.


Có một điều mà ông Chính cũng như người dân Tam Kỳ rất tò mò, đó là những viên gạch và cối đá xếp quanh lòng giếng đều liên quan đến số 7. Gạch có chiều dày 7cm, chiều ngang 17cm và dài là 27cm; cối đá có chiều cao 17cm, đáy 27cm và miệng cối đá úp xuống là 37cm.



Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại - Chủ Nhật, 22/9/2019.

Xem: Chuyện thần bí về 2 giếng cổ nghìn năm ở Hưng Yên không cạn nước - xaluan, 23/12/2019.



Mời xem bài:

Về quê hương Tô Hiệu

Thursday, July 11, 2019
Đất và người Hưng Yên

Về quê hương Tô Hiệu



Nguồn: YouTube 30 thg 6, 2019

Tưởng niệm 75 năm ngày hy sinh của nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu 7/3/1944 - 7/3/2019

Tuesday, April 2, 2019

baohungyen.vn

Chiều ngày 7.3.2019, tại Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên đã tổ chức trọng thể Lễ tưởng niệm 75 năm ngày hy sinh của nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu (7.3.1944 – 7.3.2019).

Dự lễ tưởng niệm có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an. Cùng dự có các đồng chí: Đỗ Tiến Sỹ, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Nguyễn Văn Phóng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo tỉnh Sơn La…
Các đại biểu dâng hương tưởng niệm nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu
Đồng chí Tô Hiệu sinh năm 1912, là người con ưu tú của quê hương Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ. Đồng chí tham gia cách mạng khi mới 16 tuổi. Đồng chí bị địch bắt và bị đày đi Côn Đảo. Mãn hạn tù, đồng chí tiếp tục hoạt động và là Uỷ viên Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ phụ trách các tỉnh duyên hải Bắc bộ. Năm 1939, đồng chí lại bị địch bắt và bị giam tại Nhà ngục Sơn La. Dù bị tra tấn, đánh đập dã man, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ngày 7.3.1944, nhà cách mạng Tô Hiệu đã trút hơi thở cuối cùng. Những đóng góp to lớn của đồng chí Tô Hiệu đã góp phần quan trọng vào thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Tại lễ tưởng niệm, bà Tòng Thị Phóng, Đại tướng Tô Lâm và lãnh đạo hai tỉnh Hưng Yên và Sơn La đã dâng hương tại Nhà thờ họ Tô và tại Nhà lưu niệm nhà cách mạng Tô Hiệu.

Sau khi dâng hương, bà Tòng Thị Phóng và Đại tướng Tô Lâm đã phát biểu bày tỏ lòng ngưỡng mộ trước tinh thần, ý chí chiến đấu, gương hy sinh anh dũng của nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Cán bộ và nhân dân hai tỉnh Hưng Yên, Sơn La nguyện học tập tấm gương của nhà cách mạng Tô Hiệu, đoàn kết, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, phát triển.
Nguồn: baohungyen.vn
Nguồn: BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN - Đăng ngày: 08/03/2019 - 3:23:06 PM




LỄ GIỖ TƯỞNG NIỆM 75 NĂM NGÀY NHÀ CÁCH MẠNG - LIỆT SỸ TÔ HIỆU HY SINH (7/3/1944-7/3/2019)

Tô Giang

Hội đồng họ Tô Việt Nam trong lễ kỷ niệm 75 năm ngày mất của nhà cách mạng liệt sỹ Tô Hiệu
Chiều ngày 7/3/2019, tại Nhà Tưởng niệm Tô Hiệu (làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) đã tổ chức Lễ Giỗ tưởng niệm 75 năm ngày hy sinh của nhà cách mạng - liệt sỹ Tô Hiệu.

Về dự Lễ Giỗ tưởng niệm, ở Trung ương có bà Tòng Thị Phóng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Đại tướng Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Tỉnh Hưng Yên có ông Đồng Sỹ Tiến, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; ông Nguyễn Văn Phóng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Ban Thường vụ Tỉnh ủy; lãnh đạo các sở, ban ngành đoàn thể; lãnh đạo huyện Văn Giang và lãnh đạo xã Nghĩa Trụ cùng đông đảo bà con quê hương của liệt sỹ Tô Hiệu. Đoàn đại biểu tỉnh Sơn La có ông Hoàng Văn Chất, Bí thư Tỉnh ủy; ông Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh và một số lãnh đạo các ban ngành đoàn thể và Bảo tàng Sơn La về dự. Hội đồng Họ Tô Việt Nam do GS-TS Tô Xuân Dân, Chủ tịch Hội đồng Hội đồng Họ Tô Việt Nam làm Trưởng đoàn; tham dự còn có các Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Tô Việt Nam: Tô Quang Mậu, Tô Văn Thặm, Tô Quyết Tiến (cháu ruột của liệt sỹ Tô Hiệu) cùng về tham dự Lễ Giỗ.

Nhà cách mạng - liệt sỹ Tô Hiệu sinh năm 1912, là người con ưu tú của làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, tham gia cách mạng khi mới 16 tuổi; Tô Hiệu bị địch bắt và đày ra Côn Đảo; mãn hạn tù, Tô Hiệu tiếp tục hoạt động và là Uỷ viên Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ phụ trách các tỉnh duyên hải Bắc bộ.
Năm 1939, Tô Hiệu lại bị địch bắt và giam tại Nhà ngục Sơn La, bị tra tấn đánh đập dã man, Tô Hiệu vẫn giữ vững khí tiết của người Cộng sản. Tô Hiệu cùng các đồng chí của mình đã biến nhà tù đế quốc thành trường học giáo dục Chủ nghĩa Mác Lê nin rèn luyện nhiều chiến sỹ cách mạng sau này trở thành lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã viết:
“Đồng chí Tô Hiệu là một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng, tham gia hoạt động cách mạng từ thuật thiếu niên và hy sinh ở nhà ngục Sơn La năm 1944 lúc 32 tuổi. Cuộc đời đồng chí tuy ngắn ngủi nhưng những cống hiến của đồng chí cho dân tộc, cho cách mạng thật là to lớn …”

Sau lễ dâng hương, bà Tòng Thị Phóng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội và Đại tướng Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã phát biểu bày tỏ lòng ngưỡng mộ trước tinh thần, ý chí chiến đấu, gương hy sinh anh dũng của nhà cách mạng - liệt sỹ Tô Hiệu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng; cán bộ và nhân dân hai tỉnh Hưng Yên và Sơn La nguyện học tập tấm gương của nhà cách mạng Tô Hiệu, đoàn kết, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, phát triển.

Tin : Tô Giang
Nguồn: Họ Tô Việt Nam - Đăng ngày: 08/03/2019 - 3:23:06 PM


Sáng mãi tinh thần nhà cách mạng Tô Hiệu

Nguyễn Văn Hạnh

(Tưởng niệm 75 năm ngày hy sinh của nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Hiệu 07.3.1944 – 07.3.2019)

Đồng chí Hoàng Văn Thịnh, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Hưng Yên và các đại biểu trao học bổng Tô Hiệu Hưng Yên cho học sinh đợt 1 năm 2019
Nhà cách mạng Tô Hiệu (1912 - 1944), quê quán thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, là con út trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống yêu nước, hiếu học và cách mạng, thuộc đời thứ 11 của cụ Thủy Tổ - Minh Biện hiệu Đạo Khoan giám sinh trường Quốc Tử Giám, đời Hậu Lê. Ông nội đồng chí Tô Hiệu là cụ Tô Ngọc Nữu, từng được bổ nhiệm thăng quyền đốc học Nam Định. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cụ tỏ thái độ bất hợp tác, từ quan về quê dạy học. Ông ngoại đồng chí Tô Hiệu là cụ Ngô Quang Huy, đốc học Bắc Ninh, là một thủ lĩnh có uy tín của nghĩa quân Bãi Sậy. Thân mẫu đồng chí Tô Hiệu, bà Ngô Thị Lý là con gái danh tướng Ngô Quang Huy. Bà là người được nhân dân địa phương kính trọng vì lòng quả cảm, có công nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng, được suy tôn là một trong những bà mẹ gương mẫu, tiêu biểu của phong trào phụ nữ cách mạng tỉnh Hưng Yên, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, quê hương nhà cách mạng Tô Hiệu là vùng đất đã có trên 2000 năm lịch sử, có bề dày truyền thống văn hóa, những nét đẹp thuần phong mĩ tục và tập quán hay: ''Ai về Đồng Tỉnh, Xuân Cầu. Đồng Tỉnh bán thuốc, Xuân Cầu nhuộm thâm''. Xã Nghĩa Trụ cũng từng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, hạng Nhì và Huân chương Chiến công hạng Ba vì đã có những đóng góp và hy sinh to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ và quê hương sớm ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng yêu nước và cách mạng của đồng chí Tô Hiệu.

Tiếp nối truyền thống quê hương, truyền thống gia đình, dòng họ, với đồng chí Tô Hiệu, yêu nước, cách mạng là đạo đức, lý tưởng và chân lí sống của một người cộng sản tận trung với nước, tận hiếu với dân. Tình yêu thương nhân dân, yêu thương con người ở đồng chí Tô Hiệu là sợi dây gắn bó đồng chí với giai cấp vô sản. Đồng chí Tô Hiệu giác ngộ cách mạng rất sớm. Ngay từ năm 1926, khi 14 tuổi, đồng chí Tô Hiệu đã hăng hái tham gia các phong trào yêu nước, tham gia bãi khóa, để tang cụ Phan Chu Trinh. Ông tham gia hoạt động khắp miền Bắc - Nam. Năm 1930, đồng chí bị địch bắt, giam cầm, thực dân Pháp đánh đập tra tấn dã man, kết án 4 năm tù và đày ra địa ngục Côn Đảo. Tuy nhiên, tại nơi đây, đồng chí Tô Hiệu được sống cùng các đồng chí cộng sản, được giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin và ngọn cờ của Đảng.

Năm 1934, đồng chí Tô Hiệu được mãn hạn tù trở về, nhưng bị thực dân Pháp quản thúc tại làng quê Xuân Cầu. Sự quản thúc của quân thù tại quê nhà Xuân Cầu cùng 4 năm địa ngục Côn Đảo không làm nao núng tinh thần cách mạng của người chiến sỹ cộng sản Tô Hiệu. Ở quê hương Xuân Cầu, đồng chí tiếp tục gây dựng phong trào cách mạng, không ngừng tổ chức các hoạt động nâng cao dân trí, dân sinh, lập ra “Hội Nông dân tương tế”, vận động thành lập thư viện và bí mật tuyên truyền đọc sách báo của Đảng tại nhà anh Nguyễn Phùng. Đặc biệt, đồng chí Tô Hiệu trực tiếp vận động bà con và người làm ăn xa góp công, góp của xây dựng Trường Kiêm Bị Xuân Cầu, một hình thức trường tiểu học chỉ có ở huyện lúc ấy. Sự kiện thành lập Trường Kiêm Bị Xuân Cầu đánh dấu bước phát triển mới của phong trào vận động cách mạng tại địa phương, hơn cả là việc chắp cánh ước mơ được học hành, nâng cao dân trí. Đây là kết quả của cuộc vận động chính trị sâu sắc, chắp cánh lí tưởng cách mạng, thức tỉnh đông đảo quần chúng tin tưởng vào đồng chí Tô Hiệu, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, một lòng hướng theo Đảng.

Những kết quả bước đầu trong phong trào cách mạng tại Xuân Cầu đã có sức lan tỏa mạnh mẽ, vận động, tuyên truyền lý tưởng cộng sản cho thanh niên yêu nước các vùng lân cận, công sức ấy đã góp phần không nhỏ vào sự ra đời chi bộ cộng sản ghép Liễu Khê - Liễu Ngạn - Ngu Nhuế (thành lập năm 1938). Đây là chi bộ cộng sản ghép đầu tiên của khu vực nam tỉnh Bắc Ninh, bắc tỉnh Hưng Yên và đông thành phố Hà Nội.
Cuối năm 1936, đồng chí Tô Hiệu cùng những người tích cực trong anh em tù chính trị mới được tha, tổ chức cuộc họp trên một căn gác ở phố Hàng Bột để khôi phục lại Xứ ủy Bắc Kỳ. Đồng chí Tô Hiệu được cử vào Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, tham gia hoạt động ở thành phố Hà Nội và một số tỉnh. Những năm 1938 - 1939, đồng chí được đặc trách Bí thư Liên khu B, kiêm Bí thư Thành ủy Hải Phòng, tích cực hoạt động và lãnh đạo phong trào cách mạng tại thành phố Hải Phòng, đưa phong trào đi lên mạnh mẽ.

Mặc dù năm 1938, do hoạt động đấu tranh vất vả lại trải qua đòn roi tra tấn dã man của địch trước đây, sức khỏe bị suy yếu, đồng chí Tô Hiệu đã mắc bệnh lao, song vẫn tiếp tục lãnh đạo những cuộc đấu tranh với hàng vạn thợ thuyền nổ ra liên tiếp ở khắp các ngành kĩ nghệ, lan rộng khắp nhà máy và đông đảo quần chúng nhân dân, khiến thực dân Pháp hoảng sợ.

Mùa đông năm 1939, đồng chí Tô Hiệu bị địch bắt tại thành phố Hải Phòng, bị giam cầm tại Hỏa Lò. Tháng 02/1940, đồng chí bị kết án 5 năm tù, đày đến địa ngục Sơn La. 5 năm tù đày kìm kẹp, bị tra tấn dã man tại địa ngục Sơn La, nhà cách mạng Tô Hiệu không nhụt chí chiến đấu, tích cực vận động phong trào “Lập ra Chi bộ”. Bằng sự quả cảm của mình, nhà cách mạng Tô Hiệu đã biến địa ngục Sơn La thành trường học cộng sản vĩ đại, đào tạo những chiến sỹ cộng sản kiên cường, nhiều cán bộ cốt cán cho Đảng, với tinh thần bất khuất thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao. Nhà cách mạng Tô Hiệu trở thành linh hồn của nhà tù, của chi bộ

Đối mặt cơn sốt rét ác tính, rụng tóc, vàng da, tiểu ra máu, lá lách và gan sưng, bản thân mắc lao phổi, ho ra máu, nhà cách mạng Tô Hiệu càng khẳng định tinh thần đấu tranh không nao núng, không mệt mỏi, một ý chí, nghị lực kiên cường, là người truyền lửa nhiệt huyết và niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp cách mạng của Đảng cho đồng đội.

Ngày 07/3/1944, ở tuổi đời 32, nhà cách mạng Tô Hiệu đã ra đi mãi mãi trong vòng tay thương mến của đồng đội. Đến lúc hấp hối, nhà cách mạng vẫn gắng gượng căn dặn đồng đội lời tâm can cuối cùng “các đồng chí hãy cố gắng hơn lên, đừng phút nào quên nhiệm vụ của mình”. Sáng mãi một cốt cách tinh thần Tô Hiệu, dù không một tấm huân chương trên ngực, song những đóng góp to lớn của đồng chí đã góp phần quan trọng vào thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tưởng nhớ và biết ơn nhà cách mạng Tô Hiệu, tháng 9/1947, Trung ương Đảng mở lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ trung cao cấp đặt tên lớp là Lớp huấn luyện chính trị Tô Hiệu, tiền thân của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

75 năm mùa xuân sau ngày nhà cách mạng Tô Hiệu về nơi vĩnh hằng, màu hoa đào vẫn thắm in dấu những mùa xuân bất tử của dân tộc trường tồn, như biểu tượng mãi xanh mùa xuân đất nước, vượt qua mọi khắc nghiệt và giá rét mùa đông. Màu hoa ghi dấu niềm tự hào về tinh thần Tô Hiệu, một người con ưu tú của đất mẹ Hưng Yên. Cùng những đóng góp xương máu của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên, tinh thần và sự hy sinh của nhà cách mạng Tô Hiệu tô thắm niềm tự hào về miền đất, con người Hưng Yên, miền đất với bề dày truyền thống văn hiến và anh hùng. Quê hương Hưng Yên nguyện viết mãi những trang sử hào hùng về tinh thần nhà cách mạng Tô Hiệu, tiếp nối và phát huy, nâng thêm tầm cao mới truyền thống yêu nước và cách mạng, dựng xây hòa bình và hạnh phúc trường tồn trên miền đất Hưng Yên.

Nguyễn Văn Hạnh
Nguồn: BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY HƯNG YÊN - Đăng ngày: 07/03/2019 - 9:31:38 AM




TRAO HỌC BỔNG TÔ HIỆU HƯNG YÊN Đợt I/2019









CÁC HOẠT ĐỘNG TƯỞNG NIỆM 75 NĂM NGÀY HY SINH
CỦA LIỆT SỸ TÔ HIỆU 7/3/1944 - 7/3/2019

Video TUẤN ĐẠT - VĂN CHUNG



Lễ Hội truyền thống đình Phúc Thọ làng Xuân Cầu năm 2019

Lễ Hội truyền thống đình Phúc Thọ làng Xuân Cầu năm 2019



Nguồn: YouTube - 02/04/2019

Lược khảo thần tích của làng Đồng Tỉnh - tổng Xuân Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên) - BÀI 3

Saturday, March 16, 2019

Lược khảo thần tích của làng Đồng Tỉnh - tổng Xuân Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên) - BÀI 3

dienbatn

Lược khảo thần tích của làng Đồng Tỉnh - tổng Xuân Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên) - BÀI 2

Lược khảo thần tích của làng Đồng Tỉnh - tổng Xuân Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên) - BÀI 2

dienbatn

Lược khảo thần tích của làng Đồng Tỉnh - tổng Xuân Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên) - BÀI 1

Lược khảo thần tích của làng Đồng Tỉnh - tổng Xuân Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh (nay là Hưng Yên) - BÀI 1

dienbatn