II.1 CHUYỆN VỀ CÁC DANH NHÂN

Monday, March 18, 2013

DANH NHÂN



Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết


PHAN VĂN ÁI

(Ghi theo lời kể của nhà thơ, nhà báo Phạm Như Tiên)

Thân thế và sự nghiệp
Phan Văn Ái sinh năm canh tuất (1850) niên hiệu Tự Đức thứ ba, mất năm 1898, là con ông Phan Văn Chạch, cháu nội ông Phan Văn Chỉnh, ông còn có tên là Phan Văn Tâm, hiệu là Đồng Giang, người làng Đồng Tỉnh.

Năm 27 tuổi, đỗ cử nhân, hạng thủ khoa, khoa thi Hương, năm Bính Tí, đời Tự Đức thứ 29 (1876), được lĩnh mũ áo nhậm chức tri huyện, huyện Hương Trà, là huyện sở tại của kinh thành Huế. Ông là một ông quan liêm khiết thẳng thắn, cương trực và có khí phách, khi làm Tri huyện Hương Trà, ông đến xem nhà một ông quan đã nghỉ hưu vì nghe tiếng dị nghị ông này là một tham quan. Chủ nhân ngỏ ý mời ông ăn cơm và nói: "Nhà có nhiều món quý, ông thích ăn món gì để sai người nhà làm cơm", ông trả lời: Ông thích món ngô rang; chủ nhà thấy khác ý song vẫn cố nói: "Tôi không còn răng, ngô rang ăn sao được?" Cụ Ái đốp thẳng: "Bạc nén rắn như thế cụ còn gặm được huống hồ ngô rang, làm sao không ăn được?" thế rồi chủ khách tạm biệt nhau.

Tuy làm quan, bận rộn việc công, chăm lo cho dân bản huyện, nhưng ông vẫn tu thân ôn luyện, học hành đêm tối, gặp khoa thi Hội năm Canh Thìn (1880) niên hiệu Tự đức thứ... ông đỗ phó bảng (ất tiến sĩ). Được bà từ dụ gán gả công nương Tôn Thị Phan cho theo ông làm kế thất (Công nương Tôn Thị Phan là con gái vua Thiệu Trị).

Có sách chép rằng: Ông đã ra lệnh cho lính đánh chú ruột vua là đức ông Lạng quận công Hồng Dật, vì đã vi phạm luật của triều đình đề ra khi ấy là bất kì ai khi đi ra đường trong đêm tối đếu phải cầm đèn.
Năm 1883 vua Tự Đức mất, di chiếu cho Ứng Chân nối ngôi, lấy hiệu Dực Đức, được hai ngày thì ông vua này bị truất, Nguyễn Văn Trường và Tôn Thất Thuyết đề nghị bà từ dụ - Hoàng Thái hậu đưa Lãng quốc công là con thứ 29 của vua Thiệu Trị lên thay lấy hiệu Hiệp Hoà. Hiệp Hoà lên ngôi, vì mối thù bị Phan Văn Ái phạt đánh 30 trượng khi trước, triều đình đã thuyên chuyển Phan Văn Ái đi nhậm chức Tri huyện Quảng Điền.
Hiệp Hoà âm mưu cấu kết với Pháp, bị Thuyết và Trường phế đi, lấy Dưỡng Thiện lên thay, hiệu là Kiến Phúc, do vua tuyên bố sẽ chống lại Thuyết và Trường lên bị đầu độc chết, Ưng Lịch được nối ngôi lấy hiệu Hàm Nghi.
Con đường tiến thân của Phan Văn Ái sẽ gặp nhiều trắc trở, bởi Thuyết tuy là người thân, nhưng cũng khó che chở được, nên Thuyết đã cử ông ra Bắc nhậm chức Tri Phủ phủ Lý Nhân (thống hạt 5 huyện, Nam Sang, Duy Tiên, Bình Lục, Kim Bảng và Thanh Liêm).
Ra làm tri phủ chưa được bao lâu, lại được phong giữ chức tham biện Toà kinh lược Bắc Kỳ, với nhiệm vụ trông coi việc học, chủ bút tờ Đồng văn Nhật báo, là tờ báo bằng chữ Hán, đồng thời ông còn viết sách và viết văn.

Có lần con trai Hoàng Cao Khải là Hoàng Trọng Phu đi du học ở Pháp, đỗ tú tài tây, Khải mở tiệc ăn mừng, đến dự tiệc có các quan tuần phủ, án sát đứng đầu các tỉnh, trong nha môn có Tư vụ, Nguyễn Khuyến, và Phan Văn Ái, khi bữa ăn gần tàn, tuần phủ Hải phòng là Phạm Văn Tuấn đọc bốn câu thơ.

Bốn cọc trơ trơ đứng giữa trời
Anh thì bay ngước, chú bay khơi
Sinh sôi nảy nở đàn con cháu
Cặp chả dâng thầy đénh chén chơi
.

bốn câu thơ vừa có ý tán tụng, vừa có ý gần như nguyền rủa, thấy vậy Cao Khải nói luôn:
xin các quan có lòng mừng cho gia đình, xin các quan hướng vào mấy chữ trong kinh thi “Thiên hà ngôn tai”. Có một người đọc nối vào hai câu “tứ thời hành yên. Vạn vật sinh yên” có nghĩa “Ông trời có nói đâu nào” với bốn mùa làm yên, mọi vật sinh sôi nảy nở. Rồi người đó đọc bài thơ tán tụng họ Hoàng. Phan Văn Ái có tính thẳng thắn và cương trực đọc luôn 4 câu đúng đầu đề mà Khải đã đề ra:

Tao ngồi chót vót mãi trên cao
Mày thử xem tao có nói nào
Da tao xanh ngắt pha đen trắng
Bởi tại dì Oa vá váy vào

với hàm ý: Trời ngồi cao thấy suốt mọi thứ ở dưới đất, bán nước hại dân trời biết cả, nhưng trời không nói. Ngay gian lẫn lộn, đen trắng lẫn lộn đều biết cả. Ác hơn, Phan Văn Ái đã lấy cả hình ảnh cái váy của đàn bà đập vào bữa tiệc, làm cho không khí trầm lặng hẳn xuống, mọi người đang im lặng thì ông tư vụ cũng đọc một bài chung chung cốt xoa dịu đôi bên, rồi ông quay qua mời cụ Yên đổ làm một bài, sao cụ lại ngồi như phỗng đá. Cụ Yên đồ liền đứng lên đọc một bài ”Ông phỗng đá” trong đó cũng có những câu mỉa mai, châm biếm nhưng không dám đả mạnh vì còn là gia sư, (giam lỏng).

“Thôi thôi đừng chấp chuyện đâu đâu
Tái vũ trụ mặc đàn sau gánh vác
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác
Chén chú chén anh chén tôi chén bác
Cuộc tỉnh say. Say tỉnh cùng nhau
Nên chăng đá cũng gật đầu”

Phan Văn Ái cũng đọc tiếp một bài gần như hoạ lại

Non thiêng khéo đúc nên người
Trong chừng sành sỏi khác trần gian
Trải bao gió táp mây ngàn
Đã già già sức, lại gan, gan lì.
Gan lì con cóc
Há non chi mà sợ cóc gì ai
Người là người tớ cũng là người
Ngẫm cho kỹ vẫn chênh vênh đầu giốc
“Tương chi tằng thức năng công ngọc (1)
Mạc luyện như hà tả bổ thiên(2)”
Thôi mặc ai rằng trắng rằng đen
Thế như thế cẵng (3) ngồi yên như thế vậy
Còn trời còn đất, còn tai mắt ấy
Lặng mà coi hoạ thấy lúc nào chăng
Hãy về giã gạo ba trăng.



Tư dinh của Hoàng Cao Khải ở ấp Thái Hà gần gò Đống Đa, nơi có miếu Trung Liệt thờ ba ông đã hi sinh vì Hà Nội là Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, và Đoan Thọ. Hoàng Cao khải đổi tên là miếu Trung Lương, có ý định sau này bắt dân thờ mình vào đó. Một hôm ông lên thăm miếu, không rõ nghĩ thế nào lại đề trên vách bài thơ như sau.

Núi Thái lông hồng đọ với nhau
Nước đau nào quản đến thân đau
Một nền chính khí trơ mưa gió
Ba khối hùng tâm chọi bể dâu.
Nợ với giang sơn đành phải trả
Người mà sà huỷ(1) kể vào đâu
Lòng trung chỉ có lòng trung biết
Đỗ Phủ(2) ngày xưa khóc Vũ Hầu(3)

Bài thơ trên đến tai Hoàng Cao Khải nên y không dám cải tên miếu nữa, nhưng một hôm ngồi nói chuyện, y bảo Phan Văn Ái rằng:
- Quan Tham Đồng Tỉnh muốn bắt chước Đỗ Phủ à, thì sẽ được như Đỗ Phủ.
Thời điểm này, giặc pháp đã dẹp yên được việc triều đình chống lại sự đô hộ của Pháp, Phan văn ái là chỗ tin cậy của Tôn Thất Thuyết cũng mất liên lạc 5-6 năm trời, nên ông cáo từ chức Tham biện toà kinh lược về quê hương, chủ trương xây dựng một khu căn cứ quân sự lấy một khu trung tâm giữa bãi sậy dốc sức khai phá, lập dinh điền, chiêu mộ nông phu khai khẩn mở rộng địa trang. Trong thời gian ở nhà, ông viết sách binh thư, soạn thảo kế sách “Việt bộ thuỷ đình”. Công việc đang trong giai đoạn phôi thai, Hoàng Cao Khải đã cho một toán lính, đóng giả kẻ cướp, nhân cơ hội đêm xuống đến dinh trại của ông để cướp, mà chỉ cướp sách vở không lấy tài vật.

Mối quan hệ giữa Tôn Thất Thuyết và Phan Văn Ái.
Tôn Thất Thuyết họ nội nhà vua, là quan phụ chính, trụ cột của triều đình, thấy Phan Văn Ái học rộng, tài cao, có nhân cách, thiên tính của một trung thần, lại lấy công chúa đương triều, trở thành con rể của hoàng gia nên mối quan hệ giữa hai người càng được thắt chặt thêm.
Hai người lại có chung tư tưởng và quan điểm trong cuộc kháng pháp, nên khi binh lực trong tay Tôn Thất Thuyết suy yếu dần, phải lẩn ẩn tránh khỏi vũ đài chính trị đương triều. Khi hoàng cao khải dâng sớ xin phong làm Phó Quốc Vương, Tôn thất htuyết đến đồng tỉnh và cất nhắc Phan văn ái lên Án Sát Sơn Tây kiêm nhiệm, thống hạt 6 tỉnh với nhiệm vụ “Vệ Quốc an dân xứ Bắc Kỳ”, chưa được bao lâu, Hoàng Cao Khái mua chuộc được đám hầu cận của ông và tiến hành đầu độc, sát hại (cho thuốc độc vào một quả đào) ông mất tháng 6 năm 1896. Sau khi ông mất, Khải ra lệnh cho tỉnh Sơn Tây phải đưa tang ông về Đồng Tỉnh, cứ khoảng 10 km phải có nhà tạm quàn thi hài ông, và hào lý các địa phương đoàn đưa tang qua phải tổ chức “Tế Điếu”. Từ Sơn Tây về tới Đồng Tỉnh phải qua 5 nhà quàn như thế.. gia đình và bạn bè ông cùng giới sĩ phu đương thời rất hài lòng.
Khi ông làm án sát Sơn tây thì công việc lập dinh điền và khai phá bãi sậy vẫn được các gia nhân tiếp tục, 3 xóm ấp được gọi là xóm trại”.

Các di vật
  • Khi đậu phó bảng được vua ban mũ áo và biển vinh quy có 4 chữ “Ân tứ vinh quy”
  • Sắc được thụ phong: Sắc phong chánh tứ phẩm quang lộc tự khanh
  • Sắc phong ông thân sinh (cụ Trạch) chánh ngũ phẩm Hàn lâm viện thị độc.
  • Sắc phong bà chánh thất (bà tám) tứ phẩm cung nhân
  • Sắc phong bà kế thất (bà Phan) tức bà hoàng cô - tứ phẩm cung nhân

Tỉnh Sơn tây có khắc bia kỷ niệm công trạng của ông, trong bia còn lại hai bài lục bát như sau:

Anh hùng trí dũng tứ ân
Hà Tây vọng bái nhớ ơn nghìn đời
Sắc hộ quốc muôn đời ghi sử
Ngàn thu còn để dấu anh hùng.,...

Hiện nay tại miếu thờ thần hoàng còn lưu hai câu đối của cụ Phan Văn Ái
Cửu Tỉnh....


Chuyện cụ đốc Đông

(Ghi theo lời kể của nhà thơ Tô Hùng Long)

Tô Huân sinh năm 1817, mất năm 1896, năm 43 tuổi ứng thí khoa thi thi Mậu Thìn năm Tự Đức thứ 21 (1868), đỗ phó bảng, được triều đình nhà Nguyễn bổ dụng làm Tri huyện Thanh Trì, sau đó được điều về kinh (kinh thành Huế) giữ chức phó đô ngự sử, rồi được thăng đến chức phó quản đạo ở Hà Tĩnh coi việc học hành thi cử.

Khi những đội quân viễn chinh Pháp tiến đánh thành Hà Tĩnh, lực lượng trong thành ít, vũ khí chiến đấu thô sơ dẫn tới sự thất thủ hoàn toàn thành Hà Tĩnh về tay Pháp, Tô Huân cùng một số các quan giữ thành bị triều đình bãi chức. Tuy thoát được tội trọng nhưng vì muốn giữ tròn danh tiết của kẻ sĩ, ông nhân cơ hội đó xin được về quê nhà an trí và mở lớp dạy chữ thánh hiền tại trường làng cho con em quanh vùng.

Sau một thời gian được triều đình phục chức, phong làm đốc học tỉnh Đông, dân trong vùng thường gọi là cụ Đốc Đông. Vốn hay chữ và nổi tiếng uyên thâm trong giới nho đạo, ở tại nơi cụ dạy học cụ cho treo hai câu đối thể hiện rõ chức phận của mình:

Đốc chư sinh phụng thiên tử chiếu
Học hà sự độc thánh nhân thư

........

Có nghĩa:

Được làm thầy theo chiếu vua ban
Dạy học trò đọc sách thánh hiền.


Trong giới nho sĩ, cụ Đốc Đông nổi tiếng tận tình với trách nhiệm làm thầy của mình, lại tận tâm chỉ bảo rèn cặp chu đáo cho mỗi học trò, tiếng thơm bay xa, học trò các nơi về theo học nơi cụ rất đông, nhiều người thành đạt, có quyền cao chức trọng. Tiêu biểu là ông Tuần phủ Nam Định Phan Đình Hoè, nhớ ơn thầy học cũ khi thầy mất, đã cung tiến một bức hoành phi đại tự và một đôi câu đối ca ngợi công đức của cụ Đốc Đông, bức hoành phi này được các con cháu trong dòng họ của cụ Đốc Đông Tô Huân trang trọng treo ở gian giữa nhà tiền tế từ đường có 4 chữ:

THANH MÔN VĂN THÁI

Tạm dịch: Cửa thanh bạch nhưng trọng văn chương

Và hai bên cột chính treo hai câu đối:

Đại gia khoa bảng truyền giang bắc.
Ngô bối cầm thư đáo hải nam.


Dịch nghĩa:

Nhà có nhiều người đỗ đạt lừng danh vùng Giang Bắc.
Nhiều sĩ tử túi đàn cặp sách nổi tiếng miền Nam Hải
.



Hiện nay trên mảnh đất thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ là nơi cụ Tô Huân sinh sống, còn có ngôi từ đường thờ cụ làm cụ tổ trong chi họ, đã qua nhiều lần trùng tu, nâng cấp, sửa chữa với quy mô thờ tự nhỏ gọn nhưng vẫn toát lên vẻ khang trang, thu hút con cháu hàng năm về dự ngày giỗ kị.

Lịch sử tồn tại của ngôi đường này được ghi lại rất rõ qua bản gia huấn của dòng họ do cháu đời thứ 9 của dòng họ nhà thơ Tô Hùng Long còn lưu trữ được:

Từ đường trăm sáu mươi thu
Một lần kiến tạo trùng tu ba lần
Năm MỘT NGHÌN TÁM TRĂM BỐN MỐT
Cụ phong công xây dựng từ đường
Một toà đẹp đẽ khang trang
Tôn nghiêm ngày lễ khói nhang phụng thờ
Cơ nghiệp tổ từ xưa để lại
Rạng “Thanh môn văn thái” nho gia
Tu nhân tích đức nhà nhà
Bốn phương yêu quý ngợi ca thảo hiền
Nổi danh khoa bảng truyền Giang Bắc
Vang tiếng cầm thư khắp Hải Nam
Trải qua bảy chín mùa xuân
Nhà lim mưa nắng cũng dần tàn phai
Ông Tô Nghệ tú tài Đinh Dậu
Bán cầm đi gần mẫu ruộng hương
Cậy nhờ các chú đảm đương
Trông nom tiền hậu cung đường sửa sang
Thêm bảy chín mùa xuân nữa nhỉ
Năm cuối cùng thế kỉ hai mươi
Từ đường lại xuống cấp rồi
Mái hiên dột nát tường hồi mối xông
Con cụ cử là ông Tô Uý
Cùng sáu chi quết chí trùng tu
Một đoàn tiến sĩ kỹ sư
Tô Loan thủ quỹ chi thu rõ ràng
Tô Tần tài vụ làm kế hoạch
Tô Thảo cùng Tô Thạch ra công
Ngày đêm thiết kế mau xong
Tô Dũng, Tô Thế, Tô Long góp phần
Tìm mua sắt thép xi măng
Thi công giám sát khi cần có ngay
Nhà thờ tổ móng xây giằng hộp
Mái bê tông ngói lợp khang trang
Hai bên bia đá bảng vàng
Tô thêm truyền thống vẻ vang từ đường
Nơi thờ phụng tấm gương minh ngọc
Tổ tiên xưa đốc học tỉnh Đông
Cháu con về lễ tổ tông
Đáp đền ân đức gắng công học hành.



Tô Ngọc Vân


Tô Ngọc Vân là một trong những họa sỹ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hinh hiện thực xã hội. Ông không những đã đào tạo được rất nhiều học trò xuất sắc mà còn thể hiện tài năng hiếm có qua những tác phẩm để đời.
Thủa nhỏ là một cậu bé con nhà nghèo, Tô Ngọc Vân phải đến sống nhờ bà cô, quá tuổi mới được đi học. Tuổi thơ nghèo khó đã tạo cho ông một ý chí tự lập, một cuộc sống nội tâm sâu sắc. Đang học trung học năm thứ 3, ông bỏ học đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926 ông trúng tuyển vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ở trường, ông tiếp nhận những kiến thức tạo hình mới với lòng hăng say không mệt mỏi. Phương pháp tạo hình mới, đặc biệt chất liệu sơn dầu, đã cuốn hút ông một cách mãnh liệt. Hầu hết các tác phẩm của ông đều thể hiện bằng chất liệu sơn dầu. Ông quan niệm: nghệ thuật giúp con người diễn đạt được những tình cảm rạo rực, bừng cháy trước cảnh vật và con người; chất liệu sơn dầu là chất liệu diễn đạt được những tình cảm mạnh mẽ, sự khát khao đến bến bờ hạnh phúc của con người.
Từ trước Cách mạng tháng 8 (1945) Tô Ngọc Vân đã phần nào thể hiện tính hiện thực qua các tác phẩm. Với tác phẩm Bức thư (1931), ông vẽ những cô gái đang say mê làm việc bên khung cửa. Đó là những cô gái thôn quê, chăm chỉ lao động và có một vẻ đẹp thuật khiết đang trao gửu những tình cảm đoan trang, kín đáo. Họa sỹ đã thể hiện sự dè dặt trước một khuynh hướng mới. Sau này, Tô Ngọc Vân đã thể hiện sự sâu đậm hơn hình ảnh của người phụ nữ với những đồng cảm trân trọng. Năm 1931 tranh sơn dầu Bức thư được tặng bằng khen danh dự ở Triển lãm hội họa tại Pháp và được trao huy chương vàng ở triễn lãm thuộc địa tại Pari. Thời gian này, ông cũng vẽ nhiều tác phẩm về cảnh đẹp như Ánh mặt trời, Bụi chuối ngoài nắng, Trời dịu...
Họa sỹ Tô Ngọc Vân tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật năm 1931 và dù nổi tiếng ông vẫn sống thiếu thốn bằng nghề dạy học, vẽ tranh thuê, trình bày và minh họa cho một số tờ báo ở Hà Nội. Năm 1935 ông mới được Pháp bổ nhiệm đi dạy vẽ ở Campuchia. Năm 1938 Tô Ngọc Vân trở về Hà Nội dạy ở trường Bưởi. Đến năm 1939, ông là giảng viên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.


Đề tài sáng tác chủ yếu của Tô Ngọc Vân trước Cách mạng là hình ảnh người đàn bà thành thị. Tác phẩm Dưới bóng nắng vẽ người thiếu nữ mơ màng với cái nhìn lơ đãng dưới hoa trong nắng bên bờ ao. Ông không diễn tả một chân dung cụ thể mà chỉ thể hiện sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ. Bức tranh được mọi người biết đến nhiều nhất là bức sơn dầu Bên hoa huệ (1943). Cô gái ngồi vén tóc bên những đóa hoa huệ ngát thơm. Màu chủ đạo của bức tranh là màu trắng của áo dài và những bông hoa huệ. Người phụ nữ trong tranh của Tô Ngọc Vân luôn được thể hiện với lòng trân trọng chứ không sa vào khoái cảm nhục thể nhưng cũng không quá mơ hồ, ẻo lả hoặc kiêu kỳ như tranh vẽ của các họa sỹ cùng thời.
Các sáng tác của Tô Ngọc Vân luôn đem lại cho người xem nhiều cảm xúc. Đó là điều bất kỳ họa sỹ nào cũng mong ước. Lẽ ra ông còn cống hiến nhiều cho nên hội họa nước nhà nhưng ông đã hy sinh quá sớm khi tài năng đang trong thời kỳ bộc lộ đầy đủ nhất. Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiều tác phẩm đẹp của Tô Ngọc Vân đã bị đánh cắp, mất mát, thất lạc nên hiện nay trong nước chỉ còn lại một số ít tác phẩm sơn dầu, sơn mài. Tô Ngọc Vân xứng đáng được xem như một họa sỹ bậc thầy, một nhà trí thức lớn đã cống hiến tất cả tài năng và cuộc đời cho Tổ Quốc.
Mỹ thuật & Đời sống, 17/2000.





Tô Ngọc Vân (1906-1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả bức Thiếu nữ bên hoa huệ. Ông còn có những bút danh Tô Tử, Ái Mỹ.
Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 1908 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội. Một vài tài liệu viết ông sinh năm 1906.
Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnom Penh, Băng Cốc, Huế... Ông hợp tác với các báo Phong Hóa và Ngày Nay của Nhất Linh, báo Thanh Nghị... Từ 1935 đến 1939 ông dạy học ở trường trung học Phnom Penh, sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa sáng tác.
Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc.
Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn).

Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc (Postes Indochine). Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia. Hình tượng chính của con tem là nữ thần Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam.
Ông mất ngày 17 tháng 6 năm 1954 ở Đa Khê, vùng gần sát chiến trường Điện Biên Phủ. Họa sĩ Tô Ngọc Vân được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại Việt Nam.

Tô Chấn


Đồng chí Tô Chấn, anh ruột của đồng chí Tô Hiệu thuộc thế hệ cách mạng tiền bối của Đảng ta, sinh năm 1904 trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang.
Cụ nội của đồng chí là cụ Tô Ngọc Nữu, Đốc học Nam Định. Khi triều đình Huế ký hiệp ước Giáp Thân 1884 gọi là hoà ước, thực chất là hàng ước Patenôtre, đặt đất nước Việt Nam bị chia làm 3 kỳ dưới sự thống trị của thực dân Pháp, cụ đã phản đối bằng cách từ chức về dạy học.
Ông ngoại của đồng chí là cụ Ngô Quang Huy, Đốc học Bắc Ninh, người lãnh đạo có uy tín trong phong trào Bãi Sậy, Hưng Yên, do cụ Nguyễn Thiện Thuật (tức Tán Thuật) đứng đầu. Cũng như Nguyễn Thiện Thuật, cụ được Vua Hàm Nghi phong chức Tán Tương Quân Vụ, thường được nhân dân gọi là cụ Tán Ngô hay cụ Tán Bắc. Bà Ngô Thị Lý, mẹ đẻ của đồng chí Tô Chấn, đã có công lớn trong việc nuôi dưỡng và bảo vệ cán bộ thời kỳ hoạt động bí mật trước 1945. Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Tử Bình... thường về Xuân Cầu hoạt động, được bà chăm sóc chu đáo.
Phát huy truyền thống cao đẹp của gia đình và quê hương, đồng chí Tô Chấn đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Từ năm 1925, đồng chí tích cực tham gia hoạt động cách mạng trong các tổ chức yêu nước cách mạng ở Hà Nội, Sài Gòn và Nam Bộ. Năm 1927, đồng chí tham gia Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu và trở thành đảng viên cốt cán, kiên cường, được cử làm Đảng trưởng kỳ bộ Nam Kỳ.


Tháng 10/1930, khởi nghĩa Yên Bái thất bại. Nguyễn Thái Học bị thực dân Pháp xử tử hình, đồng chí được đề cử thay Nguyễn Thái Học và tiến hành mưu sát toàn quyền Đông Dương, vì chúng đang câu kết đàn áp phong trào cách mạng. Việc chưa thành thì đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nội, kết án tử hình, sau đó giảm án xuống chung thân, đày đi Côn Đảo.
Năm 1930-1936, trong nhà tù Côn Đảo, đồng chí đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí hăng hái tham gia đấu tranh kiên cường, tích cực học tập, trở thành một đảng viên nổi tiếng có kiến thức uyên bác và trí nhớ tuyệt vời về lý luận Mác-Lênin, được anh em rất tín nhiệm. Đồng chí đã tham gia ban lãnh đạo nhà tù cùng với các đồng chí Ngô Gia Tự, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng....
Đầu năm 1936, đồng chí được chi bộ nhà tù bố trí vượt ngục Côn Đảo cùng đồng chí Ngô Gia Tự và một số đồng chí khác, chẳng may đều hy sinh trên biển.
Đồng chí Tô Chấn cũng là người đã dìu dắt, giác ngộ đồng chí Tô Hiệu và một số thanh niên của làng Xuân Cầu đi làm cách mạng như các ông: Tô Dĩ (Lê Giản - nguyên Giám đốc Nha Công an TƯ), Tô Quang Đẩu - nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ...


Tô Hiệu


Tô Hiệu (1912-1944) là một nhà cách mạng cộng sản Việt Nam. Tô Hiệu sinh 1912, trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Năm 1927 Tô Hiệu học tại trường Pháp Việt thị xã Hải Dương và sớm tham gia vào các phong trào yêu nước của học sinh như bãi khoá truy điệu Phan Chu Trinh, tham gia phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu.
Năm 1928, vào Sài Gòn, cùng anh ruột là Tô Chấn tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1929 ông là Đảng viên Quốc dân Đảng, hoạt động tại Sài Gòn. Năm 1930, ông bị bắt và bị kết án 4 năm tù, đày đi Côn Đảo. Những năm tháng tại Côn Đảo, Tô Hiệu đi theo lý tưởng cộng sản và chỉ một thời gian sau, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1934, Tô Hiệu mãn hạn tù. Không chịu được sự quản thúc của chính quyền thực dân ở địa phương, ông trốn đi Hà Nội hoạt động và được phân công xây dựng cơ sở cách mạng ở Thái Nguyên. Mặc dù bị ho lao do kết quả 4 năm tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, Tô Hiệu vẫn hăng hái công tác và năm 1936 được cử vào Ban thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, phụ trách công tác tuyên huấn.
Cuối năm 1938, Tô Hiệu đựơc phân công phụ trách miền Duyên hải Bắc Kỳ. Tại Hải Phòng, Tô Hiệu hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức nhiều cuộc đình công, biểu tình và trực tiếp tham gia đấu tranh. điển hình là cuộc đấu tranh của 3.000 công nhân nhà máy Tơ Hải Phòng, bắt đầu từ tháng 4/1939 đến ngày 21 tháng 5/1939. Tô Hiệu chỉ đạo chi bộ Đảng nhà máy Tơ lãnh đạo tranh đấu, liên hệ với báo Đời Nay, yêu cầu đưa tin ủng hộ, gặp tổ chức Thanh niên dân chủ Pháp và Thanh niên dân chủ Việt Nam yêu cầu giúp đỡ. Cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy Tơ Hải Phòng gây được tiếng vang lớn, được Nguyễn Ái Quốc lúc đó đang hoạt động ở nước ngoài quan tâm chú ý.


Ngày 30 tháng 5/1939 Tô Hiệu trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thuế đèn, thuế nước của hàng ngàn công nhân tiểu thương và lao động thành phố Hải Phòng. Thực dân Pháp bắt 72 người biểu tình, trong đó có Tô Hiệu; nhưng Tô Hiệu thoát được ra ngoài. Tháng 10 năm 1939, Xứ uỷ Bắc Kỳ thành lập các khu Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương và vùng mỏ thuộc khu B (sau đó gọi là liên tỉnh B) trong đó Tô Hiệu làm Bí thư Khu uỷ, xúc tiến ra báo Chiến Đấu, cơ quan tuyên truyền của Khu uỷ B.
Trước sự đàn áp của thực dân Pháp đối với phong trào, Tô Hiệu chuyển hướng hoạt động từ công khai rút vào bí mật, sàng lọc cán bộ công khai. Trong suốt thời kỳ hoạt động ở Hải Phòng, Tô Hiệu với cương vị Bí thư Khu uỷ B đã không thành lập Thành uỷ Hải Phòng mà trực tiếp lãnh đạo phong trào.
Ngày 1 tháng 12 năm 1939, Tô Hiệu bị bắt tại một cở sở in ở xóm Hạ Lý, khu vực nhà máy chỉ và bị tra tấn. Bị kết án 5 năm tù, Tô Hiệu bị kết án tù tại nhà tù Sơn La. Tại đây, ông được bầu làm Bí thư chi bộ Đảng, tham gia công tác tuyên truyền cách mạng và đấu tranh cải thiện chế độ nhà tù.
Ông mất ngày 7 tháng 3 năm 1944 tại nhà tù Sơn La. Mộ ông được an tháng tại nghĩa địa Vườn ổi.





Tô Hiệu người làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang. Cha ông làm nghề dạy học. Ông đi học từ năm lên 6 tuổi, nhà nghèo nhưng học rất chăm chỉ.
Những năm 1925-1926 ông theo học trường Pháp - Việt tại thị xã Hải Dương, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh nên bị đánh trượt trong kỳ thi tiểu học.
Năm 1927 Tô Hiệu lên Hà Nội, vừa học vừa kiếm tiền nuôi thân, vừa tham gia hoạt động yêu nước trong phong trào học sinh. Sau đó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1930 ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt, chúng kết án 4 năm tù giam, đày đi Côn Đảo. Ra tù ông bị bọn mật thám xếp vào loại “nguy hiểm”, phải về quê nhà và bị quản thúc.
Trong những năm tháng sống ở quê, không bỏ phí thời gian, ông tìm mọi cách liên lạc với Đảng và lại lao vào hoạt động. Ông còn vận động bà con thôn xóm góp công sức xây dựng trường học cho con em. Năm 1935 ông được điều lên Thái Nguyên để xây dựng cơ sở cách mạng. Sau chuyển về Hà Nội làm ủy viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, phụ trách tuyên huấn, trực tiếp lãnh đạo phong trào ở Hà Nội. Ông viết bài đăng trên các báo công khai để hướng dẫn công tác và cử cán bộ xuống vùng mỏ hoạt động, nhờ đó phong trào đấu tranh của công nhân mỏ lên mạnh.
Mùa thu năm 1938, ông được Trung ương Đảng phân công phụ trách miền duyên hải Bắc kỳ, trực tiếp làm Bí thư Ban cán sự Đảng Hải Phòng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh được đẩy lên mạnh mẽ. Các cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi cải thiện đời sống của công nhân các nhà máy xi măng, máy điện, máy tơ, máy nước… đạt kết quả. Điển hình là cuộc đấu tranh của 3000 công nhân nhà máy tơ từ ngày 16 đến 22/4/1939 do Tô Hiệu trực tiếp chỉ đạo, bọn chủ đã phải giải quyết toàn bộ yêu sách của công nhân.
Ngày 30/5/1939, Tô Hiệu lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thuế đèn, thuế nước. Cảnh sát Pháp đàn áp bắt 72 người, nhờ sự bảo vệ của anh em công nhân, ông trốn thoát. Thời gian này Tô Hiệu bị bệnh lao phổi nặng, sức khoẻ giảm sút. Xứ ủy yêu cầu nghỉ chữa bệnh nhưng ông vẫn thiết tha xin tiếp tục công tác. Ông tổ chức chỉ đạo báo “Chiến đấu” bí mật lưu hành ở Hải Phòng, số đầu tiên ra ngày 7/11/1939 - số đặc biệt kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga. Ông chủ trì hội nghị Trung ương lần thứ 6.


Ngày 1/12/1939, ông bị bắt trên đường đi in tài liệu ở Hải Phòng. Bọn giặc tra tấn rất dã man nhưng ông tỏ rõ khí phách hiên ngang của người cộng sản. Những lúc hồi tỉnh ông lại tiếp tục tuyên truyền động viên anh em trong nhà lao Hải Phòng giữ vững chí khí cách mạng, đấu tranh chống chế độ nhà tù, tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2/1940 trong nhà tù đế quốc. Chính quyền thực dân đưa ông ra xét xử ở toà án Kiến An, kết án 5 năm tù.
Năm 1940 ông bị đày lên Sơn La. Tại đây Tô Hiệu được bầu làm Bí thư chi bộ Đảng, ông đã lãnh đạo anh em kiên trì đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù. Ông cùng với mới số đồng chí viết tài liệu, mở lớp chính trị, văn hóa giảng dạy cho bạn tù “biến nhà tù thành trường học” và đào tạo cán bộ cách mạng, tìm cách liên lạc với tổ chức Đảng ở bên ngoài. Tên công sứ Pháp ở tỉnh Sơn La là Cút - xô thẳng tay đàn áp, chế độ nhà tù ngày một hà khắc. Anh em tù tuyệt thực để phản đối, nhiều người bị chúng giam trong hầm tối.
Do cuộc sống khắc nghiệt của nhà tù cùng với sự tra tấn tàn bạo của kẻ địch, sức khỏe Tô Hiệu ngày một giảm sút, nhưng ông vẫn tin tưởng, lạc quan. Năm 1943, nghe tin Hồng quân Liên Xô thắng lớn ở Lêningrát, tuy đang mệt nhưng ông đã nhận định “Liên Xô sẽ thắng, phát xít sẽ thua, chiến tranh sẽ kết thúc, cách mạng Việt Nam sẽ thắng lợi”. Ngày 7/3/1944 Tô Hiệu qua đời tại Sơn La. Mộ ông được an tháng tại nghĩa địa Vườn ổi.
Ngày nay, đến thăm nhà tù Sơn La, giữa bức tường đá nhà ngục lạnh lẽo, cây đào do ông trồng vẫn xanh tươi đầy sức sống. Cành đào được mang về từ Sơn La cứ mỗi lần xuân về tết đến lại nở hoa đỏ thắm ở làng Xuân Cầu quê hương ông. Nhiều đường phố, trường học, nông trường mang tên Tô Hiệu.

Dương Thị Cẩm

Lê Văn Lương (NGUYỄN CÔNG MIỀU)


Đồng chí Lê Văn Lương (1912-1995), nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư TƯ Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Thành uỷ Hà Nội.
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, tham gia nhóm Cộng sản Đông Dương từ năm 1929, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930. Bị thực dân Pháp bắt giam, kết án tử hình. Do sức ép phong trào đấu tranh của các lực lượng yêu nước và tiến bộ, thực dân Pháp đã phải giảm án xuống chung thân khổ sai, đầy ra Côn Đảo. Tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí đã tham gia Ban chấp hành Đảng bộ nhà tù, biến nhà tù đế quốc thành trường học của người Cộng sản.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng chí đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhiều khoá tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được cử vào Ban Bí thư và Bộ Chính trị. ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần cách mạng, tận tuỵ, trung thành với sự nghiệp của Đảng.

Đồng chí Lê Văn Lương: Vì nước, vì dân
Tất cả những ai từng gặp Nguyễn Công Miều (tên thật của đồng chí Lê Văn Lương) những năm 20 của thế kỷ trước, hẳn sẽ mãi nhớ dáng vẻ nho nhã, lành hiền, thoạt gặp cứ có vẻ như lành lạnh nhưng thực ra lại rất đôn hậu, của cậu học trò trường Bưởi này.
Quê ở làng Xuân Cầu xứ Đông từng đi vào ca dao "Ai về Đồng Tỉnh, Hoa Cầu / Để thương, để nhớ, để sầu cho ai...", anh đã mang về với những bè bạn ở Thăng Long tâm tính chân thành đến độ thẳng thắn, cởi mở đến độ hồn nhiên để cùng nhau giác ngộ cách mạng từ tuổi 15, gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội năm 1927. Và từ đấy, lửa thử vàng, gian nan thử sức, người cộng sản Lê Văn Lương cho tới phút cuối cùng của cuộc đời mình vẫn giữ nguyên tính cách quý hiếm của một người hiền chính trực, luôn nói thật và chỉ nói thật trong mọi tình huống. Bác Hồ, như hồi ức của thư ký Vũ Kỳ kể lại, đã nhận thấy trong đồng chí Lê Văn Lương "những đức tính chuẩn mực" ấy để tin cậy và trao đổi những điều tâm huyết nhất trước lúc vĩnh viễn đi xa.
Đồng chí Lê Văn Lương sinh ra trong một gia đình nhà nho hiếu học và nhiều tài năng. Chính từ dòng họ Nguyễn Công đã lớn lên những tên tuổi sáng chói trên nhiều lĩnh vực. Anh ruột đồng chí Lê Văn Lương là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Anh hùng LLVTND, là cháu gọi đồng chí Lê Văn Lương là chú ruột (thân phụ đồng chí Nguyễn Tài là nhà văn Nguyễn Công Hoan)... Họ ngoại của đồng chí Lê Văn Lương là họ Tô với những nhà cách mạng tên tuổi như Tô Hiệu...Như không ít bè bạn cùng thời ở trường Bưởi, cậu học trò Nguyễn Công Miều đến với lý tưởng cách mạng cứu dân cứu nước như một lẽ tự nhiên. Và trong "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" dường như còn có một chút gì lãng mạn cổ kính kiểu tráng sĩ phương Đông, coi cái chết vị nghĩa nhẹ tựa lông hồng. Có lẽ chính vì thế nên chàng thư sinh Nguyễn Công Miều đã đi vào Nam "vô sản hóa".


Và khi phải vào Khám Lớn Sài Gòn ở tuổi 17-18 để chờ thi hành án tử hình vì "tội" làm cách mạng, người chiến sĩ trẻ Lê Văn Lương, cũng như các đồng chí của mình, mới có thể hành xử được như sau này đồng chí kể lại:
"Vừa đến khu xà lim án chém, đã nghe có tiếng gọi quen quá:
- "Lương, Lương, thôi có bạn rồi, vào ở đây cho vui!"
Ngỡ ai, hóa ra là anh Hùng. Anh đang ngồi kề ngay cửa xà lim chơi. Lúc bấy giờ, các anh đã đòi phải mở cửa xà lim mỗi ngày vài bận cho sáng xà lim, và nhìn ra ngoài cho vui. Thanh và Rỗ cũng mời: "Các anh vào đây. Chật một tí không sao ạ!". Thế là bảy mạng cả thảy trong một xà lim.
Anh Hùng nói đùa: "Để mai, bảo nó dọn bữa tiệc, ta nhậu với nhau". Trong này, mỗi chủ nhật muốn uống rượu, cứ gọi y tá đến "Ờ thày này, bọn tôi "ho" quá, có gì uống nhỉ?". Y tá hiểu ý, đem rượu ở nhà thuốc lên ngay.
Được vài hôm, tên gácđiêng sếp người Pháp đến. Nó bảo anh Hùng: "Y án chém các anh rồi. nhưng gặp vụ án vừa qua phải đợi Paris xét thêm nên còn chờ. Thấy các anh không phải người sợ chết, tôi mới nói cho mà biết đấy. Tôi đã mua rom và xì gà. Mỗi người một ly rượu rom và một điếu xì gà". Bọn Pháp cho tù tử hình uống rom và hút xì gà trước khi chém, nghe đâu để cho hăng.
Anh Hùng nói luôn: "Đâu, đem chúng tôi dùng ngay bây giờ. Lúc nào chém sẽ hay!". Tên gácđiêng sếp đưa rượu rom và ba điếu xì gà đến. Anh Hùng vặn nó: "Chúng tôi bảy người, anh đưa có ba, không đủ". Nó lại lấy thêm. Chúng tôi mỗ người phì phèo một điếu. Khói om xà lim...". Đúng là "trông chết cười ngạo nghễ"! Trước đó, ở phiên tòa đại hình kết án chém đối với mình, đồng chí Lê Văn Lương cũng đã lớn tiếng công khai kết tội lại chế độ thực dân: "Các anh nói mình là dân chủ nhưng đó là thứ dân chủ kiểu gì vậy nếu như khi muốn lấy đầu người ta, các anh lại chỉ cho phép người ta nói độc câu "uẩy u nông" (có hay không)?!".
Và cũng chính tinh thần mã thượng ấy đã giúp đồng chí Lê Văn Lương vượt qua được không chỉ án tử hình mà cả 11 năm đằng đẵng trong xà lim địa ngục trần gian Côn Đảo... Trở về đất liền ngày 23/9/1945 sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí lại lao mình vào cuộc chiến đấu mới cùng cả dân tộc chống lại các loại giặc thời chiến và thời bình. Đồng chí đã trải qua nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng, từng là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tổ chức, Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chánh văn phòng Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội...


Nguyễn Công Hoan


Tiểu sử
Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 (8 tháng 2 năm Quỹ Mão). tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh tỉnh Hưng Yên, mất 6-6-1977 tại Hà Nội. Sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế. Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này. Ông có ba người em trai là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương), Nguyễn Công Bồng và Nguyễn Công Mỹ.
Năm 1926, ông tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiều nơi (như Hải Dương, Lào Cai, Nam Định,...) cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra. Nguyễn Công Hoan viết văn từ sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Nhà văn đã từng là Giám đốc Trường Văn hóa Lý Thường Kiệt. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Sau đó ông gia nhập Vệ quốc quân, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, giám đốc trường Văn hóa quân nhân, chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo. Ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1948. Năm 1951 ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ 9 năm. Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ. Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam (khóa đầu tiên 1957-1958), ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa sau đó. Ông cũng là ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ).


Xuất thân làm nghề giáo, Nguyễn Công Hoan có dịp đi nhiều, chứng kiến nhiều cảnh sống của nhiều tầng lớp xã hội. Cuộc sống thôi thúc ông cầm bút viết về "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". bắt đầu văn nghiệp của mình vào những năm hai mươi của thế kỷ này khi ở Việt Nam, văn học được viết bằng quốc ngữ đã khá phổ biến. Truyện ngắn đầu tiên "Quyết chí Phiêu lưu", ông viết năm 17 tuổi. Năm 20 tuổi xuất bản tập truyện ngắn "Kiếp Hồng Nhan" Những truyện ngắn đăng thường xuyên trong "Xã Hội Ba Ðào Ký" và tiểu thuyết "Những cảnh khốn nạn" tập I, dầy 218 trang in, xuất bản năm 1932, viết trong thời gian ông dạy học ở Lao Cai, đã báo hiệu con đường văn độc đáo của ông sau này đi tới trọn đời. Nhưng phải đến năm 1935 với tập truyện Kép Tư Bền Nguyễn Công Hoan trở thành nhà văn có danh tiếng trên văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1938, Nguyễn Công Hoan cho xuất bản tiểu thuyết Bước đường cùng - một tác phẩm góp vào bức tranh chung về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng
Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học-Nghệ thuật (đợt I, 1993)
Những tác phẩm văn học của Nguyễn Công Hoan được Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I-1996) gồm Kép Tư Bền (truyện ngắn, 1935). Bước đường cùng (tiểu thuyết, 1938). Nông dân và địa chủ (truyện ngắn, 1955). Tranh tối tranh sáng (truyện dài, 1956), Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn 1930 (1960), Hỗn canh hỗn cư (truyện dài, 1961), Ðời viết văn của tôi (hồi ký, 1971), và Tuyển tập truyện Nguyễn Công Hoan (3 tập).
Năm 1936, truyện dài Tắt lửa lòng của ông đã được Trần Hữu Trang chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng Lan và Điệp.





Thành tựu nghệ thuật
Nguyễn Công Hoan là nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Tác phẩm Kép Tư Bền (viết năm 1927, xuất bản năm 1935) đã gây chấn động trên văn đàn, và là đề tài cho cuộc bút chiến giữa hai quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh lúc bấy giờ. Nhiều tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ thông các cấp.
...Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại. Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một "bách khoa thư", một "tấn trò đời" mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một "vũ khí của người mạnh" để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng... Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan với đặc điểm của nó đã nâng cao khả năng nhận thức và khám phá các hiện tượng xã hội phức tạp... Chúng ta có quyền tự hào về Nguyễn Công Hoan và coi ông là bậc thầy truyện ngắn... Nguyễn Công Hoan là nhà văn có công khai phá, mở đường cho chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại... Nguyễn Công Hoan đã đột phá vào những thành trì, khuôn khổ của giáo huấn và tiếp nhận, tuân theo một chủ nghĩa khách quan lịch sử khi miêu tả hiện thực. Giới nghiên cứu văn học khi bàn đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam đều nhất trí đánh giá cao vai trò, vị trí của Nguyễn Công Hoan, người có những tác phẩm được coi là "cổ điển" trong nền văn học hiện đại."[3]


Từ điển bách khoa Việt Nam đánh giá:
Có thể nói Nguyễn Công Hoan là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam... Nguyễn Công Hoan đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng. Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội. Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có và quan lại, cường hào. Toàn những cảnh xấu xa, bỉ ổi, những chuyện bất công, ngang ngược, những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ. Nguyễn Công Hoan tạo ra những tình huống bất ngờ, rồi phá lên cười và làm cho người khác cười theo, nhưng ngẫm lại thật thương tâm đau xót."[4]
Ngoài sáng tác, những bài tiểu luận, phê bình văn học của ông cũng được đánh giá cao vì có cái nhìn, cách tiếp cận sắc sảo về các tác giả văn học Việt Nam.
Ông từng có mặt trong Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô từ thập niên 1960[5]. Nguyễn Công Hoan mất ngày 6 tháng 6 năm 1984 tại Hà Nội.
Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội, đoạn giữa hai phố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh. Nguyễn Công Hoan được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.






Giai thoại
Mặc dù sinh thời, Phạm Quỳnh nhận xét về Nguyễn Công Hoan rằng: "Truyện viết hay như Tây" nhưng ông rất ít đọc các tác phẩm văn học nước ngoài, kể cả tác phẩm của các tác giả bậc thầy. Theo ông kể lại, ngày còn đi học, ông được một người thân cho ba đồng bạc để mua sách, ông góp thêm tiền vào mua được bộ tiểu thuyết "Bá tước Monte Cristo" (bấy giờ được dịch sang tiếng Việt là "Ngọc Sơn bá tước") của Alexandre Dumas. Sách mua về, ông chỉ đọc có chương đầu tiên rồi bỏ, từ đấy cuốn sách chỉ để cho mượn. Khi ông được người bạn cho mượn một tập truyện ngắn của Guy de Maupassant thì ông cũng chỉ đọc có truyện đầu là truyện "Lão ăn mày", rồi không xem thêm nữa.[6]

Chuyện xảy ra ở nhà 66 Thợ Nhuộm
Trong những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhà ông Nguyễn Công Hoan ở 66 Thợ Nhuộm (nằm trong trụ sở Báo CAND hiện nay). Hồi đó, giáp tường nhà ông Nguyễn Đức Thuận (hiện nay là nhà ông Phạm Thế Duyệt - Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam), gia đình đào một cái hầm tránh bom. Có lần máy bay Mỹ đến, bà Yến (vợ ông Hoan) gọi hết con cháu xuống hầm, nhưng ông Hoan vẫn đứng “hiên ngang” ngửa mặt lên trời nhìn máy bay địch. Bà hốt hoảng gọi: “Ông ơi, xuống đi, không máy bay nó bắn chết bây giờ đấy!”. Bà không ngờ ông bảo: “Bà yên tâm, nó có nhìn thấy tôi đâu mà nó bắn”. Đó là cái lý của nhà văn trào phúng, coi việc sống chết cứ như chuyện chơi!


Ông trêu bà
Năm 1968, chiến tranh ác liệt. Đang học lớp một, tôi cùng ông bà và ba anh chị em của tôi sơ tán về quê bà nội ở thôn Đôn Thư, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Hàng ngày, bà nấu cơm cho ông và các cháu ăn. Ông nghiện thuốc lá, thỉnh thoảng uống rượu. Nhất là lúc có chuyện gì bận tâm, ông lại nhâm nhi chén rượu.
Một hôm, ông dọn cái mâm ra, mang một chai nước trắng rót ra chén, giả vờ ông cháu uống rượu để... trêu bà. Ông bảo các cháu ngồi vòng tròn, đưa cho mỗi đứa một chén. Lúc bà từ nhà bếp đi lên, thấy ông ngồi uống “rượu”, bà nghĩ, hôm nay có chuyện gì đây? Bà nhìn kỹ, thấy mỗi cháu một chén, bà “tá hoả” kêu lên: “Trời đất, ông lại còn đầu độc chúng nó nữa à?”. Ông giả vờ nghiêm nét mặt, bảo: “Bà! Tôi có việc suy nghĩ, tôi phải uống”. Bà nói: “Thế nhưng sao ông lại cho chúng nó uống ruợu?”. Ông làm bộ bực mình bảo: “Bà nói nữa, tôi đổ hết rượu bây giờ”. Nói rồi, ông đùng đùng đứng dậy, đổ hết “rượu”. Bà sợ quá. Lũ trẻ chúng tôi không nhịn được nữa, cười phá lên. Lúc này bà mới biết ông... trêu bà!

Ông làm bà... hỉ hả
Tính ra, nhà văn Nguyễn Công Hoan phải vào nằm viện vài đợt. Khi nằm viện, ông cũng có phần áy náy về vợ ông. Chả là sau khi ông xuất bản cuốn tự thuật “Đời viết văn của tôi”, bà đọc mãi mà chẳng thấy ông nhắc gì tới bà. Bà buồn lắm. Đang nằm trên giường bệnh, một hôm ông tâm sự với bà: “Bà biết không, đời tôi mà nếu không gặp bà thì không thể viết văn được cho đến bây giờ. Cho nên trong sự nghiệp của tôi có một nửa của bà”. Nghe ông nói thế, bà cảm động rơi nước mắt. Bà vui và hỉ hả lắm.


Nguyễn Công Mỹ


Nguyễn Công Mỹ(1909 - 1949)
Người làng Xuân Cầu xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Xuân Cầu là một làng văn hiến ở cạnh quốc lộ 5 và có nhiều người đến làm ăn sinh sống ở nội thành Hải Phòng sống khá đông ở khu chợ Con. Gia đình Nguyễn Công Mỹ cũng vậy, em ông là Nguyễn Công Bồng, đảng viên cộng sản dạy ở trường Tổng sư Đại Lộc, trường Tiểu Bàng (Kiến Thuỵ) từ 1937-1943. Cháu ông là Nguyễn Tài Khoái (Tĩnh) tham gia thành uỷ Hải Phòng sau cách mạng thành công. Dòng họ Tô làng Xuân Cầu cũng có nhiều người hoạt động cách mạng nổi tiếng gắn bó với Hải Phòng như Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu. Xuất thân trong một gia đình nhà nho, anh em Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Công Mỹ, Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương), Nguyễn Công Bồng đều được gia đình chăm lo dạy dỗ, cho ăn học, mặc dù nhà nghèo, có khi phải dựa vào ông bác ruột làm quan.
Nguyễn Công Mỹ học ở Hải Phòng năm 1925 tham gia biểu tình đòi tha nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1930 đang học năm thứ tư trường Sư phạm Hà Nội bị đuổi học vì tham gia hoạt động cách mạng. Sau đó ông về dạy tư ở nội thành Hải Phòng và tiếp tục hoạt động. Là nhà giáo đức độ, tài năng, ham hoạt động nên có uy tín, ảnh hưởng rộng. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, ông được Đảng phân công hoạt động công khai, ông đã cùng các thầy giáo Nguyễn Hữu Tảo, Lê Xuân Phùng cộng tác với Vũ Quí tổ chức Hướng Đạo Sinh Hải Phòng đi vào con đường hoạt động yêu nước. Khi bầu cử hội đồng thành phố, Thành Đảng bộ Cộng sản Hải Phòng đã chọn Nguyễn Công Mỹ ra tranh cử với đốc tờ Đệ. Lúc này theo chủ trương của Đảng, Nguyễn Công Mỹ hoạt động công khai trong hội Ánh Sáng và đã thay Bùi Vũ Trụ làm trưởng ban Uỷ ban chống nạn thất học. Với hoạt động xã hội rộng rãi nên Nguyễn Công Mỹ có ảnh hưởng sâu rộng, nhưng do chính quyền Pháp tổ chức bầu cử gian lận nên đốc tờ Đệ đã thắng. Ngày công bố kết quả bầu cử, thanh niên công nhân đã công kênh rước Nguyễn Công Mỹ trước quảng trường toà Đốc lý, hô vang khẩu hiệu đòi tự do dân chủ. Tháng 5/1938. Hội Truyền bá quốc ngữ thành lập, cơ sở của hội ở Hải Phòng-Kiến An lần lượt ra đời và là những nơi có phong trào mạnh của Bắc Kỳ lúc ấy. Nguyễn Công Mỹ đảm nhiệm công tác trưởng ban cổ động.


Cánh mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Công Mỹ giữ chức Uỷ viên tư pháp trong Uỷ ban nhân dân cách mạng thành phố. Ngày 8/9/1945 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, Nguyễn Công Mỹ nguyên trưởng ban Uỷ ban chống nạn thất học học của Thành uỷ Hải Phòng, được bổ nhiệm chức Tổng giám đốc Nha. Nhiệm vụ chống nạn thất học là một trong ba quốc sách hàng đầu của nhà nước cách mạng non trẻ và được Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Vừa nhận nhiệm vụ, ông đã bắt tay chuẩn bị xây dựng bộ máy, chương trình, nội dung, sách giáo khoa, nguồn giáo viên, học viên... Ngày 17/9/1945, ông chủ trì hội nghị cán bộ toàn Nha để bàn và thông qua kế hoạch.
Với kinh nghiệm hoạt động chống thất học và vận động thanh niên ở Hải Phòng thời kỳ bí mật, Nguyễn Công Mỹ đã cùng đồng sự dựa vào chính quyền các cấp hoạt động tích cực. Chỉ một năm sau ngày 8/9/1946 cả nước đã có 2.520.678 học viên, 95.665 giáo viên, 74.957 lớp học, do nhân dân, giáo viên, học viên tự nguyện tự giác tham gia. Rồi kháng chiến nổ ra ở Miền Nam đến 19/12/1946 lan ra toàn quốc, nhưng phong trào diệt dốt vẫn duy trì phát triển khắp nước không chỉ ở vùng tự do, vùng du kích mà cả nhiều nơi để vùng địch tạm chiếm.
Đến tháng 6/1950, cả nước đã có trên 10 triệu người thoát nạn mù chữ, 10 tỉnh, 80 huyện, 1424 xã, 7248 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ. Cũng năm này, Quốc hội họp kỳ II đánh giá: Cũng như thành tích chống giặc ngoại xâm và thành tích chống giặc đói, thành tích bồi dưỡng học viên chống giặc dốt rất là vĩ đại....... Những thành tích vĩ đại trên có phần đóng góp to lớn của người Tổng giám đốc Nha đầu tiên, nhà giáo cách mạng Nguyễn Công Mỹ, mặc dù ngày 6/1/1949 ông đã hi sinh khi đi công cán.







Một làng quê có năm đại biểu dự Ðại hội lần thứ II của Ðảng

Sunday, February 3, 2013



_ Tạ Quang Dũng _
Ðại hội II của Ðảng diễn ra từ ngày 11 đến 19-2-1951, giữa núi rừng Việt Bắc, tại xã Vinh Quang (Chiêm Hóa, Tuyên Quang). Trong số 158 đại biểu chính thức về dự đại hội, làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ (Văn Giang, Hưng Yên) vinh dự có năm người là đại biểu tham dự. Ðây là niềm tự hào của bao thế hệ cán bộ, đảng viên và người dân Xuân Cầu.



Từ sự kiện hiếm có trong lịch sử Ðảng

Chúng tôi may mắn được gặp đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư T.Ư Ðảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội, là một trong hai đại biểu tham dự Ðại hội II của Ðảng hiện còn sống. Mặc dù đã 97 tuổi, nhưng đồng chí vẫn nhớ rất rõ những kỷ niệm về Bác Hồ và Ðại hội II của Ðảng. Ðồng chí nhớ lại: Ðại hội II là Ðại hội đầu tiên sau khi Ðảng ta giành được chính quyền toàn quốc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành Ðảng cầm quyền, lãnh đạo cuộc kháng chiến cứu nước lần thứ nhất. Ðây cũng là lần đầu Ðảng ta, sau những năm rút vào hoạt động bí mật, ra hoạt động công khai với tên gọi mới - Ðảng Lao động Việt Nam. Nhiệm vụ chính của Ðại hội là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Ðảng Lao động Việt Nam. Chủ đề này của Ðại hội đã được nêu bật trong Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc cũng như trong Luận cương Cách mạng Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày. Ðại hội II thể hiện một cách sâu sắc bản lĩnh chính trị, tầm trí tuệ, tinh thần cách mạng, dân chủ kỷ luật và đoàn kết, thống nhất trong Ðảng... Ấn tượng đặc biệt đối với tôi là những phút giải lao trong những ngày diễn ra Ðại hội. Trong không khí phấn khởi và chân tình, Bác Hồ đã tới chia sẻ, hỏi thăm, động viên các đại biểu về dự Ðại hội.

Ðại hội II của Ðảng với sự tham dự của 158 đại biểu chính thức, đại diện các lớp đồng chí từ ngày Ðảng mới thành lập trên mọi miền Tổ quốc. Trong số các đại biểu tham dự Ðại hội lần này có năm đại biểu là người con làng Xuân Cầu, gồm các đồng chí: Lê Văn Lương (tên thật là Nguyễn Công Miều), Tô Quang Ðẩu, Lê Giản (Tô Gĩ), Tô Duy, Trần Bình (Nguyễn Thưởng). Theo đồng chí Nguyễn Văn Trân, một làng quê mà có đến năm người là đại biểu cùng dự một kỳ Ðại hội là sự kiện hiếm có trong lịch sử Ðảng ta. Ðồng chí Trân kể: "Tại Ðại hội II của Ðảng, đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào BCH T.Ư, được T.Ư bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Tôi có nhiều dịp làm việc và trò chuyện với các đồng chí này, nhất là đồng chí Lê Văn Lương trong những năm giúp việc Bác Hồ. Họ là những chiến sĩ cộng sản kiên trung, một lòng, một dạ theo Ðảng và sau này đã trở thành những cán bộ cao cấp của Ðảng, Nhà nước".



Vùng quê giàu truyền thống

Từ xa xưa, Xuân Cầu (trước đây có tên là Hoa Kiều, Hoa Cầu, Huê Cầu) vốn là miền đất nổi tiếng không chỉ có nhiều người kiệt xuất mà còn là mảnh đất cửa ngõ phía đông của kinh thành Thăng Long xưa. Xuân Cầu án ngữ cả đường thủy và đường bộ lai kinh của hào kiệt trấn Ðông và là đường đi trấn giữ vùng Hải Ðông, có cửa biển Vân Ðồn giao thương với bên ngoài của Nhà nước phong kiến Ðại Việt. Làng Xuân Cầu có tên trong "Dư Ðịa Chí" (1435) của Nguyễn Trãi.

Trong suốt chiều dài lịch sử, vùng đất này luôn sản sinh ra những danh nhân, những nhà khoa bảng cho đất nước. Xuân Cầu có đến 12 người thi đỗ đại khoa trong các triều đại phong kiến, nhất là dòng họ Nguyễn và họ Tô. Thuộc dòng họ Nguyễn, có cụ Nguyễn Hằng đỗ tiến sĩ năm 1586, Nguyễn Tính đỗ tiến sĩ năm 1640, Nguyễn Hành đỗ tiến sĩ năm 1688, Nguyễn Gia Cát đỗ tiến sĩ năm 1787... Ðối với dòng họ Tô, có cụ Tô Trân đỗ tiến sĩ năm 1826, Tô Ðăng đỗ cử nhân năm 1867, Tô Huân đỗ phó bảng năm 1868, Tô Ngọc Huyền đỗ cử nhân năm 1825, Tô Ngọc Nữu đỗ cử nhân năm 1850... Ðầu thế kỷ 20, làng Xuân Cầu lại xuất hiện nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan, với nhiều tác phẩm văn học có giá trị lớn, đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn học Việt Nam và Tô Ngọc Vân - họa sĩ bậc thầy trong làng hội họa nước ta, người đầu tiên được vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bắc Bộ Phủ năm 1954...

Xuân Cầu là một làng quê giàu truyền thống cách mạng, với những người con ưu tú, những chiến sĩ cộng sản kiên trung như: Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương (tức Nguyễn Công Miều), Tô Quang Ðẩu, Tô Gĩ (Lê Giản), Tô Duy... Tấm gương liệt sĩ Tô Hiệu sáng mãi trong lịch sử dân tộc ta, với tinh thần lạc quan cách mạng. Tấm gương về bản lĩnh và khí phách cách mạng của đồng chí Lê Văn Lương. Trong suốt 15 năm lao tù, trong đó có 11 năm bị giam giữ tại nhà tù Côn Ðảo, nơi được coi là địa ngục trần gian, nhưng đồng chí luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất người cộng sản kiên trung, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng...



Từ trái qua phải:  Ðồng chí Tô Duy, Lê Giản, Lê Văn Lương, Trần Bình, Tô Quang Ðẩu tại Ðại hội Ðảng lần thứ II (1951) ở Việt Bắc.      Ảnh Tư liệu .
Từ trái qua phải: Ðồng chí Tô Duy, Lê Giản, Lê Văn Lương, Trần Bình, Tô Quang Ðẩu tại Ðại hội Ðảng lần thứ II (1951) ở Việt Bắc. Ảnh Tư liệu.



Phát huy truyền thống quê hương

Cụ Tô Hiểu, 87 tuổi đời, 66 năm tuổi Ðảng nhớ rất rõ những kỷ niệm khi được chứng kiến tình cảm của đồng chí Lê Văn Lương với quê hương Xuân Cầu. Mặc dù hoạt động cách mạng xa quê, nhưng đồng chí vẫn luôn hướng về quê hương. Ðồng chí Lê Văn Lương trực tiếp về đổ móng xây dựng nhà truyền thống của xã Nghĩa Trụ tại làng Xuân Cầu, khánh thành cây cầu nối xã với quốc lộ 5... Trong câu chuyện thường ngày, cụ Tô Hiểu vẫn hay kể cho con, cháu nghe về truyền thống quê hương, cụ cho biết: "Xuân Cầu tự hào vì có năm người con là đại biểu dự Ðại hội II của Ðảng và điều đặc biệt nữa là năm đại biểu ấy đều là những người con ưu tú của dòng họ Nguyễn và họ Tô ở Xuân Cầu. Xuân Cầu còn tự hào có bốn người con ưu tú được đặt tên đường phố lớn ở Hà Nội: Lê Văn Lương, Tô Hiệu, Nguyễn Công Hoan, Tô Ngọc Vân. Thời nào Xuân Cầu cũng có những người con ưu tú và thế hệ trẻ Xuân Cầu hôm nay cần phải tiếp nối truyền thống văn hóa, cách mạng của quê hương".

Năm 2012 đối với người dân Xuân Cầu có ý nghĩa đặc biệt, là năm Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tô Hiệu và đồng chí Lê Văn Lương. Ðây cũng là dịp để thế hệ trẻ làng Xuân Cầu ôn lại truyền thống cách mạng của quê hương. Bí thư Ðoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Nghĩa Trụ Lê Văn Thành cho biết: "Hằng năm, chúng tôi thường tổ chức lễ dâng hương tại nhà thờ các đồng chí Tô Hiệu, Lê Văn Lương. Ðến đây, chúng tôi có dịp ôn lại truyền thống của quê hương và nhất là tấm gương của những nhà cách mạng tiền bối. Ðiều đó thôi thúc lớp trẻ của Xuân Cầu hôm nay phải nỗ lực phấn đấu hơn nữa trong lao động, sản xuất, học tập để xứng đáng với truyền thống của các thế hệ đi trước. Những năm qua, Ðoàn thanh niên xã tích cực tham gia vào thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực".

Trong những năm đổi mới, xã Nghĩa Trụ cũng như thôn Xuân Cầu, đã có nhiều đổi thay theo hướng tích cực. Bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Tại thôn Xuân Cầu, Quỹ khuyến học của các dòng họ Tô và họ Nguyễn rất phát triển nhằm động viên con em nỗ lực học tập. Hằng năm, Xuân Cầu có 40-50 em thi đỗ các trường đại học. Bí thư Ðảng ủy xã Nghĩa Trụ Lê Ðức Dân phấn khởi cho chúng tôi biết: Cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Ðảng bộ xã luôn quan tâm công tác xây dựng Ðảng. Trong nhiều năm liền, Nghĩa Trụ được Tỉnh ủy Hưng Yên công nhận là Ðảng bộ trong sạch, vững mạnh, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 2012, Ðảng bộ xã đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) về xây dựng Ðảng, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực như các phong trào xây dựng quỹ "Tình đồng đội" của Hội Cựu chiến binh, xây dựng gia đình "bốn chuẩn mực" của Hội Phụ nữ, tri ân các anh hùng, liệt sĩ của Ðoàn Thanh niên xã...

Tự hào là một vùng quê có truyền thống yêu nước và cách mạng người dân Xuân Cầu đều nhận thức được trách nhiệm để truyền thống ấy tiếp tục tỏa sáng, có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước.


 ✯✯ 




Khánh thành chùa Xuân Cầu

Thursday, April 19, 2012
_ Cẩm Vân _
Sáng ngày 18 tháng 03 năm 2012 tại chùa Xuân Cầu – thôn Tam Kỳ - Phúc Thọ - Hưng Yên đã long trọng tổ chức lễ Khánh thành chùa Xuân Cầu.

Tham dự và chứng minh buổi lễ có
chư Tôn đức giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN);
HT. Thích Thanh Dũng – Thành viên HĐCM GHPGVN;
HT. Thích Thanh Nhiễu Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu (1952- nay) là một trong những lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam,[1] Ông hiện là Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Bái Đính (Ninh Bình).[2]

Thân thế
Sư thế danh là Vũ Đức Chính, sinh năm 1952 tại Nam Trực, Nam Định.[3] Năm 11 tuổi, sư xuất gia tu hành tại chùa Nhất Trụ (Ninh Bình) và thọ Đại giới vào năm 20 tuổi.

Hoạt động Đạo - Đời
Sau Hội nghị thống nhất các tông phái Phật giáo Việt Nam để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, Sư được cử làm nhân viên Văn phòng I Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Từ năm 1987, Sư được Trung ương Giáo hội cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự kiêm Phó Văn phòng I. Trong giai đoạn 1997-2007, Sư đảm nhiệm chức Phó Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự kiêm Chánh Văn phòng I Trung ương Giáo hội.

Tại Đại hội VI của Giáo hội Phật giáo Việt Nam diễn ra tại thủ đô Hà Nội vào năm 2007, Sư được suy cử đảm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự.

Tại Hội nghị Thông qua việc giới thiệu Thượng tọa Thích Thanh Nhiễu đảm nhiệm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự, ngày 26 tháng 12 năm 2011 tại thành phố Hồ Chí Minh, Với 100% phiếu thuận, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chính thức thông qua việc giới thiệu Thượng tọa Thích Thanh Nhiễu đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực hội đồng trị sự thay thế Trưởng lão hòa thượng Thích Thanh Tứ - nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS đã viên tịch.[4]
– Phó chủ tịch thường trực HĐTS GHPGVN;
Nhị vị tôn đức Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN
HT. Thích Thiện Nhơn
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn

HT.TS Thích Thiện Nhơn hiện là Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.

Trong các nhiệm kỳ trước, Hòa thượng từng đảm nhiệm các chức vụ:
Phó ban Trị sự - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo TP.HCM,
Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học,
Phó ban Hoằng pháp TƯ và nhiều chức vụ quan trọng khác.

Hòa thượng là tác giả của vài chục tác phẩm Phật học có giá trị, vừa là nhà giáo dục - hoằng pháp vừa là nhà hành chính Phật giáo.

Theo Đạo Phật Ngày Nay
– Tổng thư ký HĐTS GHPGVN;
HT. Thích Bảo Nghiêm
Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm

TT.Thích Bảo Nghiêm thế danh Đặng Minh Châu Sinh ngày 27/12/1956 tại xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Hiện là Phó chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Hoằng Pháp TW.GHPGVN, Trụ trì chùa Lý Triều Quốc Sư - số 50 phố Lý Quốc Sư quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. www.chuabang.com

Sinh ra và lớn lên trong gia đình cách mạng, bố là Đảng viên, bác sỹ Bệnh viện tỉnh Thái Bình, mẹ là Y tá Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Bungari tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ sống, đi học văn hóa với bố mẹ ở xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Do nhà gần chùa nên sớm tối lui tới chùa lễ Phật và mến mộ đạo Phật. Năm 1971 xin phép cha mẹ xuất gia tu tại chùa Diên Phúc thôn Nam Hà, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

+ Năm 1972, được tu học tại Trường tu học Phật Pháp Trung Ương. Năm 1981 – 1985 học tại trường cao cấp Phật Học Việt Nam khoá I ( nay là Học viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội- chùa Quán Sứ Hà Nội). Trong kỳ thi tốt nghiệp là một trong 6 vị tăng ni sinh xuất sắc đỗ loại ưu.
+ Tháng 2/1986 được Giáo hội bổ nhiệm công tác và lưu trú Tại văn phòng Thành Hội Phật Giáo Hà Nội ( chùa Bà Đá số 3 phố Nhà thờ Hà Nội.
+ Tháng 11/1987 tại Đại hội Phật Giáo Hà Nội lần thứ II được cử chánh Văn Phòng ban trị sự Thành Hội.
+ Tháng2/1989 được Ban giám hiệu mời làm giảng sư và Thư Ký trường Cơ bản Phật học Hà Nội.
+ Tháng 3/1992 Thành hội bổ nhiệm trụ trì Chùa Lý Triều Quốc Sư - số 50 phố Lý Quốc Sư Hà Nội.
+ Tháng 4/1992 Đại hội Thành hội Phật Giáo Hà Nội nhiệm kỳ III được cử giữ chức Chánh Thư Ký kiêm Chánh Văn Phòng Thành Hội Phật Giáo Hà Nội.
+ Tháng 2 năm 1992 được bổ nhiệm trụ trì chùa Lý Triều Quốc Sư tại số 50 đường Lý Quốc Sư, Hà Nội.
+ Tháng 11/1992 Đại hội Phật Giáo Việt Nam lần thứ III được cử thành viên Hội đồng trị sự Trung Ương, Chánh thư ký Ban hướng dẫn nam nữ Phật tử Trung Ương.
+ Năm 1993 Ban giám hiệu Trường Cao cấp Phật Học Việt Nam thỉnh mời làm giảng sư của Trường.
+ Năm 1994 Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Thành phố Hà Nội được tham gia Uỷ Viên Uỷ ban khoá 12 và Uỷ vên Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc quận Hoàn Kiếm.
+ Năm 1994 tham gia Uỷ viên Uỷ ban Hoà bình Thành Phố Hà Nội.
+ Ngày 02.06.1996: Được bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Tiên Tự hay còn gọi là Chùa Bằng A. tại Phường Hoằng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
+ Tháng 8/1997: Đại hội kỳ IV Thành hội Phật Giáo Hà Nội được tái cử Chánh thư ký kiêm Chánh Văn phòng Thành Hội.
+ Tháng 11/1997 Đại hội lần thứ IV GPGVN được suy cử trong Ban Thường trực kiêm Uỷ viên kiểm soát Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó ban Hoằng Pháp Trung ương, Phó thư ký Ban Giáo Dục Tăng Ni Trung ương. Tại Đại hội này đã được Giáo Hội tấn phong Giáo Phẩm Thượng Toạ.
+ Tháng 12/1997 Ban trị sự Thành Hội cử chức Phó hiệu trưởng kiêm Giáo Vụ Trường cơ bản Phật học Hà Nội.
+ Tháng 2/1999, được bổ nhiệm trụ trì Chùa Cảm Sơn tại Phường Đại Lài, TP Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Tháng 8/1999 Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Thành Phố Hà Nội chức lần thứ 13, được tái cử Uỷ viên Uỷ ban và là Uỷ viên UBMTTQ quận Hoàn Kiếm và phường Hàng Trống(đương nhiệm).
+ Giới đàn Phật Giáo Hà Nội được tổ chức hàng năm sau khoá hạ an cư, được thỉnh làm điển lễ và giới sư các giới đàn.
+ Năm 2001 là ủy viên hội bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long Hà Nội.
+ Năm 2002: là Phó Ban thường trực Ban trị sự Thành hội Phật Giáo Hà Nội - nhiệm kỳ 5.
- Tại Đại Hội Đại biểu Phật Giáo toàn quốc của GHPG Việt Nam lần V, được cử làm Ủy viên Thư ký Hội Đồng trị sự GHPG Việt Nam nhiệm kỳ 2002 - 2007, kiêm Phó trưởng Ban Hoằng Pháp Trung Ương.
+ Năm 2004: Tái đắc cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khóa 13 nhiệm kỳ 2004 - 2009 và tái đắc cử là ủy viên Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành Phố Hà Nội khoá 14 nhiệm kỳ 2004 - 2009.
+ Năm 2005: được cử làm Trưởng Ban đại diện Phật Giáo tỉnh Hà Tĩnh.
+ Năm 2006: vào Tháng 7, được mời làm Phó viện trưởng Học viện PG Việt Nam tại Hà Nội, phụ trách giáo dục đào tạo và công tác của sinh viên.
+ Năm 2007: là ủy viên Ban Chấp hành TW Hội Chữ Thập Đỏ khóa 8. Tại Đại Hội Đại Biểu Phật Giáo Tỉnh Hà Tĩnh lần I tổ chức vào Tháng 8, được suy cử làm Trưởng Ban Trị sự tỉnh Hà Tĩnh. Cũng trong Tháng 8, được suy cử làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Hòa bình TP Hà Nội.
- Tháng 9: Tại Đại Hội VI của Thành Hội PGHN được suy cử là Phó trưởng Ban thường trực Hội Đồng Trị Sự Thành Hội PG Hà Nội nhiệm kỳ 2007 - 2012.
- Tháng 10: được cử làm Phó CT Ủy Ban Quốc Tế Phật Đản của Việt nam ( IOC).
- Tháng 12: tại Đại Hội VI của GHPG Việt Nam, được suy cử làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự TW GHPG Việt nam kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp TW GHPG Việt Nam nhiệm kỳ 2007 - 2012.
+ Năm 2008: Vào trung tuần Tháng 2 năm 2008, Thủ tướng Chính Phủ cử làm Ủy viên Ban điều phối Đại Lễ Phật Đản LHQ tại Việt Nam kiêm Trưởng ban trang trí khánh tiết tại Đại Lễ.
Tháng 12, Tại Hội Nghị Hợp nhất Phật Giáo Hà Nội và Hà Tây được cử làm Trưởng Ban trị sự Thành Hội PG Hà Nội mới.
+ Năm 2009: vào tháng 4 là Trưởng phái đoàn Đại biểu của GHPG Việt Nam đi Hoằng Pháp tại các nước Châu Âu.
+ Từ năm 2000 đến nay, là Giới sư các Giới Đàn của Thành Hội PG Hà Nội tổ chức (mỗi năm một đàn). Kiêm Giới sư của các Giới đàn tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh Hà Nam, Thanh Hóa. Là giảng sư Trường Trung cấp Phật Học Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Nam Định khóa I, II. Là Giảng sư Học viện PG Việt Nam khóa 3 đến khóa 6.

+ Từ năm 1988 đến năm 1992: là giáo viên giảng dạy Phật Pháp tại Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội. Cũng là vị tu sỹ đầu tiên làm giảng viên dạy Phật Pháp tại trường Quốc gia hệ Đại học.

- Các phần thưởng, bằng khen trong quá trình làm công tác Phật sự và Hoằng Pháp:
- được nhiều bằng tuyên dương công đức của GHPG Việt Nam
- 2 Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ: trong đó
1 kỷ niệm chương của UB Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
1 cúp vàng Vì Sự Phát Triển của Cộng Đồng.(Năm 2010)
- 01 Bằng khen của Hội Đồng Nhân Dân TP Hà Nội
- 04 Bằng khen của Chủ tịch UB Nhân Dân TP Hà Nội và Bằng khen của UB MT Tổ Quốc TP Hà Nội.
- 01 huy chương Vì Hòa Bình Hữu Nghị giữa các Dân Tộc của Đoàn Chủ Tịch Liên Hiệp các tổ chức Hữu Nghị Việt Nam tặng.

Trong quá trình công tác, chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ với trách nhiệm của một tu sĩ Phật Giáo, hoạt động theo phương châm của Giáo Hội “Đạo pháp dân tộc, Chủ nghĩa xã hội”.

Theo Đại Đức Giảng sư
– Trưởng Ban hoằng pháp TW;
HT. Thích Gia Quang – Phó tổng thư ký HĐTS GHPGVN
cùng Tăng Ni BTS Tỉnh hội Phật giáo Hưng Yên và đông đảo tín đồ Phật tử.

Tới dự có Trung tướng Tô Lâm – Thứ trưởng Bộ công an
cùng các vị lãnh đạo đại diện các cơ quan ban ngành Trung ương và địa phương cùng về tham dự.

Sau nghi lễ niệm hồng danh đức Bản sư, ĐĐ. Thích Thanh Quang tuyên bố lý do giới thiệu thành phần tham dự.

Tại buổi lễ ông Lê Minh Đức – thay mặt UBND xã Nghĩa Trụ đọc diễn văn khai mạc:

Được biết chùa Xuân Cầu có lịch sử từ lâu đời, năm 1954 đã bị chiến tranh phá hủy, nhân dân không còn nơi thờ cúng, từ năm 2010 chùa xây dựng lại ngôi Tam bảo, nhà Tổ, nhà mẫu khang trang, tôn nghiêm.


Tổng kinh phí xây dựng chùa hơn 8 tỷ đồng. Chùa được hoàn thiện trong 3 năm, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng dân dân tại địa phương.

Làng Xuân Cầu là quê hương của các nhà cách mạng, Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương, Lê Giản (Tô Dĩ)… quê hương của nhà văn Nguyễn Công Hoan, họa sỹ nổi tiếng Tô Ngọc Vân…. Phát huy truyền thống yêu nước, nhân dân làng Xuân Cầu luôn đoàn kết hòa hợp, chấp hành tốt luật pháp, thực hiện nếp sống văn hóa mới.

Tại buổi lễ, Sư cô Thích Đàm Lương – Trụ trì chùa Xuân Cầu phát biểu bày tỏ sự tri ân đối với các cơ quan đoàn thể, các cấp lãnh đạo, nhà hảo tâm và các quý vị Phật tử đã phát tâm công đức xây dựng chùa cảnh được khang trang để trở thành trung tâm văn hóa tín ngưỡng cho nhân dân địa phương. Cũng trong dịp này Sư cô đã vinh dự đón nhận những lẵng hoa và phẩm vật của chư tôn đức Giáo phẩm cùng các vị lãnh đạo đại diện các cơ quan ban ngành trao tặng.

Cuối buổi lễ HT. Thích Thiện Nhơn
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn

HT.TS Thích Thiện Nhơn hiện là Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.

Trong các nhiệm kỳ trước, Hòa thượng từng đảm nhiệm các chức vụ:
Phó ban Trị sự - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo TP.HCM,
Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học,
Phó ban Hoằng pháp TƯ và nhiều chức vụ quan trọng khác.

Hòa thượng là tác giả của vài chục tác phẩm Phật học có giá trị, vừa là nhà giáo dục - hoằng pháp vừa là nhà hành chính Phật giáo.

Theo Đạo Phật Ngày Nay
ban đạo từ, chúc mừng ngày khánh thành chùa Xuân Cầu, Hòa thượng đã động viên phật tử và nhân dân địa phương thực hiện tốt phương châm Đạo pháp – Dân tộc góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.


 ❧ ❀ ❧ 

Lệ làng - HOA CẦU XÃ HƯƠNG LỆ - 花球社 鄉例

Sunday, April 15, 2012

Tục ngữ: "Phép Vua Thua Lệ Làng"
Thông thường, lí do lập hương ước bao giờ cũng có đoạn “Nước có luật, làng có lệ”, cụ thể trong hương ước xã Xuân Cầu (Hưng Yên) có quy định:
“Một làng cũng như một nước, cần phải có thể lệ chung để mọi người tuân theo thời mới có trật tự, mới yên ổn, dân làng mới trở nên thịnh vượng được. Làng ta đây tuy trước vẫn có khoán lệ, nhưng so với cái trình độ tiến hóa của dân ngày nay thì có nhiều điều khuyết điểm, bởi vậy nay dân làng cùng hội họp tại đình cùng bàn bạc mà sửa đổi lại, châm chước các lệ bất tiện thủa trước mà lập ra tập khoán lệ này”[4].

Sách tục lệ trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1388.
HOA CẦU XÃ HƯƠNG LỆ
花球社 鄉例

Soạn năm Lê Cảnh Hưng 36 (1775).
1 bản viết, 60 trang, 30x20.

A. 724.
  1. Quy ước về từ chỉ tiên hiền và hội tư văn của. Hoa Cầu, h. Văn Giang. 8 bài văn tế thần, tế tiên hiền.
  2. Quy ước của th. Tam Kì, x. Hoa Cầu về các việc quan, hôn nhân, tang lễ, tế tự, khao vọng, ăn uống...

Xem:

  1. Bản Hán Nôm - Flipbook
  2. Bản Hán Nôm - photocopy



Sưu tầm và giới thiệu: Nguyễn Hoàng Uyên

Hà Nội, tháng 4 năm 2012.

Cảm nhận một chuyến đi

Thursday, April 12, 2012
_ Trần Thị Bích HằngThs, Phó Hiệu trưởng Trường. _

Vào những ngày đầu xuân Nhâm Thìn, trong không khí vui xuân của những đoàn xe đi trẩy hội, đi du xuân, xe của đoàn cán bộ Trường Chính trị Tô Hiệu cũng khởi hành trong sự rộn rã. Nhưng xe của chúng tôi không đi lễ chùa, trẩy hội mà về xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên để dự Lễ Kỷ niệm 100 năm năm sinh (1912 - 2012) người chiến sĩ cách mạng kiên trung, một tấm gương cộng sản kiên cường, một người luôn chăm lo đến công tác đào tạo cán bộ, đã cống hiến trọn tuổi thanh xuân của mình cho cách mạng trong những thập niên đầu của thế kỷ XX - Liệt sĩ Tô Hiệu.

Vượt qua gần 100 km đường 5, xe vòng vào con đường nhỏ, đưa chúng tôi về với quê hương đồng chí. Ngay ở đầu thôn chúng tôi đã thấy nhân dân, trong trang phục chỉnh tề vẫy tay chào đón xe chúng tôi. Những lời hỏi thăm thân tình, ấm áp của bà con, những cái bắt tay rất chặt của các đồng chí công an làm nhiệm vụ dẫn đường, của cán bộ lãnh đạo địa phương, và đặc biệt là những cử chỉ nồng hậu, chân tình của thân nhân liệt sĩ Tô Hiệu, đã coi chúng tôi như những người thân, những người con của quê hương trở về, thắp nén tâm nhang cho người anh liệt sĩ của mình. Đoàn chúng tôi ai cũng nghẹn ngào, xúc động ! Có những giọt nước mắt đã rơi!

Trong khói hương trầm nghi ngút, linh thiêng, sau phần lễ dâng hương, chúng tôi được nghe đồng chí Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy Hưng Yên, đồng chí Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương giới thiệu tóm tắt thân thế, sự nghiệp và những cống hiến lớn lao của đồng chí Tô Hiệu đối với sự nghiệp cách mạng trong những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, một giai đoạn cách mạng đầy chông gai thử thách, thử thách lòng kiên trung của mỗi con người trước vận mệnh của đất nước.

Điều đặc biệt và cũng là điều làm cho chúng tôi vô cùng xúc động là được nghe bác Nguyến Văn Trân, nguyên Bí thư Trung ương đảng, nguyên bí thư chi bộ nhà tù Sơn la, người đồng chí, người bạn tù của đồng chí Tô Hiệu kể chuyện về cuộc sống của những người tù chính trị tại nhà tù Sơn La. Bác Trân nay đã 97 tuổi, ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn, giọng nói ấm, trầm, đầy truyền cảm. Sau ít phút nghẹn ngào ban đầu, càng nói, càng kể lại những câu chuyện về đồng chí Tô Hiệu giọng bác càng hào sảng, khúc triết, rõ ràng. Dường như ý chí của người chiến sĩ cách mạng năm xưa đang truyền thêm sức mạnh cho bác. Tuần tự từng việc làm một, từng ký ức lại dội về, bác đã đưa mọi người trở về quá khứ, trở về cuộc sống nhà tù, mà ở đó có một người, tuổi đời còn rất trẻ, bị tra tấn dã man, đói rét, bệnh tật hành hạ không hề nản chí, sờn lòng, đã trở thành tấm gương hoạt động tiêu biểu của những chiến sĩ cộng sản kiên trung, sống chết vì lý tưởng cách mạng - liệt sĩ Tô Hiệu.

Nói về đồng chí Tô Hiệu, một người cộng sản kiên trung, người mà cả cuộc đời đã dâng hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc thì không bao giờ hết. Tấm gương chiến đấu cho lý tưởng cách mạng của đồng chí Tô Hiệu đã được nhiều sách báo đề cập đến. Song tại buổi lễ trang trọng và ấm tình đồng chí này, qu lời kể của Bác Nguyễn Văn Trân kể về đồng chí Tô Hiệu, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về một đồng chí Tô Hiệu với những đóng góp cho phong trào cách mạng, cho công tác xây dựng Đảng và những hoạt động lãnh đạo của đồng chí trong thời gian bị giam cầm ở nhà tù Sơn La. Những lời kể đầy xúc động của bác Trân như tạc nên chân dung một con người, một con người không chỉ kiên trung với lý tưởng, toàn tâm toàn ý phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng mà Tô Hiệu còn là nhà lãnh đạo cách mạng đầy sáng tạo, người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong thời kỳ đầu của cách mạng.

Sau khủng bố của thực dân Pháp những năm 1930 – 1931, các cơ sở đảng nhiều nơi không còn giữ được, phong trào quần chúng bị đổ vỡ hết. Rồi đến thời kỳ 1936- 1939, khi ở Côn Đảo về, mặc dù sức khỏe còn rất yếu, song Tô Hiệu cùng với một số đồng chí khác bắt tay ngay vào xây dựng lại Xứ ủy Bắc Kỳ. Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Linh, Tô Noong (người Cao Bằng), Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt đã cùng nhau tập hợp lại để củng cố, xây dựng lại Xứ Ủy Bắc Kỳ và từ Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức lại tỉnh ủy các nơi. Trong hoạt động này, đồng chí Tô Hiệu là nòng cốt, là người năng động, có nhiều đóng góp lớn. Từ những bài học về công tác xây dựng Đảng mà đồng chí được dạy trong nhà tù Côn Đảo, Tô Hiệu đã nhận thức sâu sắc về vai trò của cán bộ. Vì thế trong khi sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức quần chúng, cũng là lúc Tô Hiệu tiến hành đào tạo cán bộ (Bác Trân kể, tôi cũng là 1 trong những cán bộ được đồng chí Tô Hiệu đào tạo trong phong trào Mặt trận Bình dân).

Theo đồng chí Tô Hiệu, muốn xây dựng Đảng thì trước hết phải có cán bộ. Cán bộ tốt không phải tự nhiên mà có, mà phải được đào tạo, bồi dưỡng. Cho nên đồng chí Tô Hiệu đã tìm mọi cách để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng (gồm những người hăng hái, những thanh niên, những công nhân, nông dân, trí thức … nếu họ có cùng chí hướng) đều được theo học. Nếu không đào tạo (hiểu theo nghĩa giác ngộ con đường đấu tranh cách mạng) thì các hoạt động của họ chỉ mang tính tự phát, và vì vậy, phong trào khó mà có thể phát triển được.

Để phong trào cách mạng mạnh, cần phải có sự tham gia của đông đảo người dân, vì thế, đối tượng đi học, theo Tô Hiệu không phân biệt họ là ai, thuộc thành phần nào, dân tộc nào mà bao gồm tất cả những người có cùng chí hướng. Với nhận thức như vậy, nên sau khi bị quân Pháp bắt lại, và giam ở nhà tù Sơn La, Tô Hiệu cùng với một số đồng chí khác đã biến nhà tù thành trường học cộng sản, thành nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Vào nhà tù Sơn La, việc đầu tiên, theo đồng chí Tô Hiệu là phải có chủ trương đối phó với bọn cai ngục (đặc biệt là đối đầu với tên công xứ mật thám người Pháp Dăng cut-xô khét tiếng, được thực dân Pháp đưa lên để khủng bố người dân ở đây). Để đối phó với bọn tay sai phản động, bọn cai ngục, Tô Hiệu đã có nhiều chủ trương sáng tạo, tùy tình hình để có lúc cương quyết lúc lại mềm mỏng, đạt hiệu quả cho mỗi cuộc đấu tranh.

Vào nhà tù trong số gần 300 tù nhân, với nhiều thành phần khác nhau: Cộng sản có; Quốc dân đảng có; một số anh em Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội; một số anh em hoạt động từ trước, chưa mãn hạn tù, vẫn trong thời gian ở trại tập trung; một số thành phần thân Nhật và đặc biệt có cả Phạm Công Tắc - Giáo chủ Cao Đài.

Vì vậy quan hệ giữa những người tù phức tạp lắm, làm sao để đoàn kết họ lại, để cùng tranh đấu chống đế quốc? Trong khi đó, cũng tại nhà tù Sơn La, bài học những năm 30- 35 của những người tù cho thấy, trong tù vừa có Cộng sản, vừa có Quốc dân đảng, nhưng vì luôn mâu thuẫn, đấu tranh không thống nhất được với nhau, cho nên tình hình đời sống của anh em trong tù hết sức khó khăn, và việc chống lại chế độ cầm quyền không thành công. Kết quả là trong số hơn 150 tù chính trị thì có tới 50 người bị chết do không đoàn kết, nên không bảo vệ được nhau. Nhưng sau này, từ năm 40- 45, trong số hơn 250 tù nhân chỉ chết có 7 người, vì dưới sự lãnh đạo của chi bộ nhà tù, trong đó đồng chí Tô Hiệu là linh hồn, đã có nhiều chủ trương đoàn kết họ lại để cùng:

Một là đấu tranh đòi lại quyền lợi cho tù nhân: đòi bỏ chế độ nhà thầu cung cấp thức ăn để buộc họ phải giao lại nhà bếp cho chính những người tù tự làm, đảm bảo chế độ ăn, vì thực tế cho thấy chế độ nhà thầu thức ăn đã tạo điều kiện để cai tù bớt xén khẩu phần, cho tù nhân ăn không đủ chất dinh dưỡng tối thiểu, điều đó ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của anh em.

Hai là đấu tranh đòi hưởng chế độ thông tin, đòi được đặt mua, cung cấp sách, báo ... để cải thiện đời sống tinh thần

Ba là đấu tranh đòi được cải thiện đời sống bằng chính công lao động của người tù: đòi được tự tăng gia trồng rau, nuôi lợn…và chính nhờ hoạt động lao động ngoài trời mà những người tù được giao lưu với nhau, và thông qua đó nâng cao được sức khỏe, giảm được bệnh tật, có điều kiện để thông tin với nhau về các chủ trương của chi bộ, thông tin về tình hình bên ngoài do một số anh em được cung cấp.

Một điều đặc biệt (theo bác Trân kể) là Tô Hiệu nói, chúng ta ở tù nhưng phải nghĩ đến sau này khi mãn hạn tù được trở về phải tiếp tục hoạt động, vì vậy, ngay từ bây giờ, trong điều kiện nhà tù, phải tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Với suy nghĩ đó, đồng chí Tô Hiệu đã tổ chức các lớp học chính trị, học văn hóa (người biết chữ dạy người không biết chữ, người biết nhiều dạy người biết ít; không chỉ dạy tiếng Việt mà còn dạy tiếng Pháp, tiếng Trung..), khác với nhà tù khác, ở đây còn dạy, còn huấn luyện quân sự. Một điều nghe như xa vời nhưng đó lại là hiện thực, điều không thể lại trở thành có thể. Bác Trân kể lại, trong những lần đi lao động khổ sai, 4 tù nhân có 1 lính dõng đi coi tù, anh em đã thuyết phục người lính dõng cho mượn súng để tập luyện quân sự, cứ thế, các đợt lao động khổ sai trở thành lớp huấn luyện quân sự. Phải chăng tấm gương kiên trung của những người tù cộng sản đã cảm hóa được người lính dõng, phải chăng trong dòng máu của những con người có thể do hoàn cảnh đã buộc họ phải đứng bên kia chiến tuyến vẫn còn le lói dòng máu Lạc Hồng, nên khi được tiếp xúc với những người tù cộng sản, cảm phục trước sự chịu đựng vô song, một nghị lực sống phi thường, họ đã không ngần ngại trao súng, bất chấp sự trừng phạt đang chờ đợi họ, nếu việc làm trên bị phát hiện. Cứ như vậy, tối đến, đêm về, các trại tù đã trở thành nơi học tập, trại này học văn hóa, trại kia học chính trị, trại kia ôn tập lại những điều mới tiếp thu được từ khâu tháo lắp súng, các yếu lĩnh bắn súng…vv. Trong các lớp học thì lớp học chính trị thu hút đông đảo người tham gia nhất. Một số anh em tù nhân có điều kiện nhận được các tài liệu bí mật từ bên ngoài gửi vào, đã biên tập thành tài liệu tuyên truyền của Việt Minh, số ít anh em đã viết được tài liệu gửi ra bên ngoài để tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Các lớp Nông vận, Công vận, Binh vận , Thanh vận và công tác hoạt động bí mật... cũng được triển khai. Dẫu sao, trong chốn tù đầy, những người Cộng sản, mà đặc biệt là Tô Hiệu, đã tranh thủ mọi thời cơ, mọi điều kiện, để biến nhà tù thành trường học, học ngay những điều mà kẻ thù không thể ngờ được. Chính từ những nội dung đào tạo, bồi dưỡng đó mà các anh em sau này khi được thả tự do, với những kiến thức tiếp thu được trong tù đã vươn lên, chủ động sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, và trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, giữ những cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Chính những chủ trương, những hoạt động lao động, học tập trong nhà tù, những phong trào đấu tranh đòi quyền lợi, những người tù đã quên đi sự khác biệt về thành phần, trình độ văn hóa, nhận thức... trở thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, mà Tô Hiệu là linh hồn, cùng chung một chí hướng chống lại đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ, mọi người hình như không ai chú ý đến thời gian, vẫn chăm chú nghe từng lời bác Trân kể để được ôn, được nhớ lại cuộc đời hoạt động của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Mặc dù trời vẫn còn lạnh nhưng chúng tôi ai cũng thấy ấm lòng, bởi những cảm xúc của bác khi kể về người bạn tù, người anh, người đồng chí đã truyền thêm sức mạnh cộng sản, truyền nghị lực sống cho mỗi chúng tôi. Quên đi tuổi tác, quên đi thời gian, bác như thầm nhủ, chúng ta, những người Cộng sản ngày nay hãy sống cho Tô Hiệu, học và làm theo tấm gương người chiến sĩ cộng sản kiên cường.

Chia tay với buổi Lễ kỷ niệm trở về, đoàn cán bộ Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng không chỉ mang trong lòng những tình cảm thân thương của bà con và lãnh đạo xã Nghĩa Trụ, sự chân tình nồng hậu của dòng tộc họ Tô, mà quan trọng hơn cả là mọi người ai cũng mang trong lòng những trăn trở của bản thân: Trong hoàn cảnh tù đầy, ốm đau bệnh tật, bị sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù, thiếu thốn trăm bề…mà những người cộng sản đã luôn vượt lên, sáng tạo, khôn khéo trong cách làm, luôn chăm lo đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho cách mạng…hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong hoàn cảnh khó khăn nhất.

Thiết nghĩ, với nhà trường mà nhiệm vụ, trọng trách chính được giao là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho thành phố và hơn nữa là Trường lại được vinh dự mang tên đồng chí Tô Hiệu, vậy học tập Tô Hiệu không chỉ ở tấm gương chiến đấu kiên trung của người Cộng sản mà là học tập sự sáng tạo, học tập tinh thần vượt khó vươn lên. Mỗi cán bộ, giảng viên cần sáng tạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đồng thời cũng luôn tự trau dồi, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức mới, đặng góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố tin tưởng giao cho trường./.

Nội san Số 1/2012


Ths, Phó Hiệu trưởng Trường

Lê Văn Lương - người cộng sản mẫu mực, trọn đời vì sự nghiệp cách mạng của Đảng

Thursday, March 29, 2012


Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà cách mạng Lê Văn Lương (28/3/1912 - 28/3/2012)

_ Đoàn Phạm Hà Trang _
TCCSĐT - Là thế hệ lớp đầu của Đảng ta, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Văn Lương nêu cao tấm gương trong sáng của một người cộng sản kiên trung, tận tụy, liêm chính, khiêm nhường…; một mẫu mực về tự phê bình, về nếp sống đặc biệt trong sáng, giản dị và khoan dung. Đồng chí đã trọn một đời với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng.




Những năm tháng trên con đường cách mạng

Làng Xuân Cầu, xứ Đông từng đi vào ca dao: "Ai về Đồng Tỉnh, Hoa Cầu / Để thương, để nhớ, để sầu cho ai...", là quê hương đồng chí Lê Văn Lương, thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tên thật là Nguyễn Công Miều, tên quen thuộc ở nhà tù Côn Đảo là Phạm Văn Khương, đồng chí Lê Văn Lương sinh ngày 28 tháng 3 năm 1912, trong một gia đình nho học, nhiều đời thi thư, khoa bảng yêu nước. Khi còn là cậu học trò trường Bưởi, Hà Nội, Lê Văn Lương đã cùng các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ tham gia các phong trào bãi khóa, để tang Phan Châu Trinh (năm 1926). Năm 15 tuổi, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (năm 1927). Tháng 6 năm 1929, đồng chí tham gia nhóm Đông Dương Cộng sản Đảng - một trong ba tổ chức cộng sản ở nước ta lúc đó, và đến khi thống nhất tổ chức thành một đảng duy nhất, đồng chí trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 8 năm 1929, đồng chí được cử vào Sài Gòn hoạt động để gây dựng cơ sở cách mạng. Tháng 3-1931, khi đang tích cực hoạt động trong phong trào công nhân thì bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Tháng 5-1933, đồng chí bị kết án tử hình trong vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với 7 người khác. Do sự vận động và đấu tranh của nhân dân ta, đặc biệt là của các nghị sĩ tiến bộ Pháp, đòi bỏ án tử hình và trả tự do cho tù chính trị ở Đông Dương, đồng chí được giảm xuống án chung thân khổ sai cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lê Quang Sung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Chí Diểu và bị đày ra Côn Đảo ít ngày sau khi kết thúc phiên tòa (14-5-1933). Trong tù, cùng với Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Lê Văn Lương được bổ sung vào cấp ủy của tổ chức Đảng nhà tù, tiếp tục lãnh đạo đấu tranh chống lại chế độ hà khắc ở nơi địa ngục trần gian này.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 23-9-1945, Lê Văn Lương cùng 2.000 tù được Chính phủ đón về Nam Bộ khi cách mạng đang bước vào giai đoạn mới. Ngay lập tức, đồng chí được phân công vào đội ngũ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tháng 10 năm 1945, đồng chí được cử làm Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ và được Trung ương điều ra Bắc, giúp Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo Báo Sự thật, Nhà xuất bản Sự thật và tham gia một số công việc khác vào tháng 01 năm 1946. Đầu năm 1947, đồng chí được cử làm Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng, cuối năm 1948 được chỉ định làm Trưởng Ban Đảng vụ.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951), đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, được phân công làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và chỉ đạo Văn phòng Trung ương. Từ giữa năm 1953, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban Cải cách ruộng đất Trung ương do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng ban, đồng chí Lê Văn Lương được phân công tham gia Ban lãnh đạo Cải cách ruộng đất.

Hòa bình lập lại, năm 1954, đồng chí được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 11 năm 1956, được chỉ định làm Bí thư Khu ủy Tả ngạn, tháng 8 năm 1957, được điều về làm Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Đầu năm 1959, đồng chí được cử giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960), đồng chí Lê Văn Lương được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư. Năm 1973, đồng chí được phân công kiêm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.

Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được phân công tham gia Thành ủy Hà Nội và được bầu làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, tiếp tục làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Cuối năm 1986, do tuổi cao sức yếu, đồng chí không tham gia Ban Chấp hành Trung ương, thôi giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội. Trong thời gian này, đồng chí vẫn được Bộ Chính trị phân công tham gia tổng kết công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ. Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa VI và VII.

Ngày 25 tháng 4 năm 1995, đồng chí Lê Văn Lương đã đi vào cõi vĩnh hằng để lại trong lòng đồng chí, đồng bào niềm tiếc thương vô hạn.

Là đảng viên cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên tham gia sáng lập Đảng, liên tục được Đảng cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương các khóa II, III, IV, V, với gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Lê Văn Lương thể hiện tấm gương của một chiến sĩ cộng sản mẫu mực, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đồng chí là một cán bộ có ý thức tổ chức kỷ luật rất cao, sống trung thực, giản dị, hòa nhã với mọi người, luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của đồng chí, của nhân dân.

Với những hoạt động và cống hiến đối với Đảng, cách mạng và dân tộc, đồng chí Lê Văn Lương đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.


Vượt lên gian khổ, hoạt động sôi nổi, cống hiến to lớn cho độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân

Với tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng, ngay từ những năm đang học ở trường Bưởi, cùng với người bạn học Nguyễn Văn Cừ, Lê Văn Lương được Ngô Gia Tự giác ngộ cách mạng. Từ khi tham gia Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên, càng thêm cơ hội để Lê Văn Lương đem nhiệt huyết của tuổi trẻ đấu tranh chống áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến; rèn luyện và trưởng thành. 17 tuổi, đồng chí đã là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng, hăm hở lao vào cuộc đấu tranh, xây dựng lực lượng, giác ngộ quần chúng, nhen nhóm phong trào cách mạng.

Thực hiện chủ trương "vô sản hóa" của Đảng, đồng chí Lê Văn Lương cùng với Ngô Gia Tự vào Sài Gòn hoạt động trong phong trào công nhân, trực tiếp lao động tại Hãng dầu Socony Nhà Bè. Ngày 23-3-1931, Lê Văn Lương trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh của hơn 400 công nhân Hãng dầu Socony. Sau khi bị mật thám bắt, Lê Văn Lương cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung đều bị kết án tử hình... Lúc ấy, đồng chí mới 18 tuổi. Với bản lĩnh và khí phách của người cộng sản chân chính, các đồng chí đã chuẩn bị sẵn tinh thần để hiên ngang lên máy chém…

Do những tác động tích cực của cách mạng thế giới, nhờ nỗ lực đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, các đồng chí đảng viên và nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi trong Ủy ban đấu tranh đòi ân xá chính trị phạm ở Đông Dương, thực dân Pháp buộc phải giảm án xuống chung thân khổ sai, đày Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung ra Côn Đảo. Suốt 15 năm lao tù, trong đó có 11 năm tại Côn Đảo, nơi địa ngục trần gian do thực dân đặt ra để đày đọa những người chống đối chúng, đồng chí Lê Văn Lương luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất cộng sản. Với tinh thần “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, Lê Văn Lương đã cùng với các đồng chí của mình thành lập Chi bộ cộng sản ngay trong cái “địa ngục trần gian” ấy. Chi bộ nhà tù đã xác định rõ nhiệm vụ của mình: Lãnh đạo tương tế; lãnh đạo đấu tranh; Lãnh đạo học tập và tự học tập, đào tạo cán bộ cho Đảng; Tổ chức vượt ngục; Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh, biên soạn và dịch thuật tài liệu gửi về cho tổ chức Đảng ở đất liền. Cũng tại đây, đồng chí được Chi bộ cử vào Ban lãnh đạo nhà tù Côn Đảo, tổ chức, lãnh đạo đảng viên trong tù đoàn kết đấu tranh chống lại chế độ lao động khổ sai, chế độ ăn uống đói khát hằng ngày. Là người say mê hoạt động, ngày phải đi làm khổ sai, tối đến, đồng chí Lê Văn Lương vẫn miệt mài viết bài chỉ đạo phong trào đăng trên báo “Tiến lên”- tờ báo bí mật của Hội tù nhân, hướng dẫn đấu tranh trong tù và tập san “Ý kiến chung” - tập san nghiên cứu lý luận trong tù. Khi đồng chí Trần Văn Giàu bị đày ra Côn đảo (tháng 7 năm 1935), đồng chí Lê Văn Lương cùng đồng chí Phạm Hùng giao cho Trần Văn Giàu mở lớp dạy lý luận trong tù. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương cũng là một học viên chăm chỉ của lớp. Tấm gương của đồng chí Lê Văn Lương có ảnh hưởng tích cực đến những người tù ở toàn đảo, đến phong trào cách mạng ở trong nước qua những đồng chí được trả lại tự do hay hết hạn tù. Những hoạt động tích cực của Chi bộ nhà tù và đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần đào tạo, rèn luyện được một thế hệ cán bộ của Đảng dày dạn kinh nghiệm, nhiều người có lý luận chỉ đạo phong trào cách mạng không chỉ trong tù mà còn trên phạm vi cả nước sau này.



Đồng chí Lê Văn Lương thuộc thế hệ lãnh đạo đầu tiên của ngành tổ chức Trung ương Đảng và có những năm tháng chăm lo “công việc gốc” này của Đảng. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng đã có nhận xét: “Lê Văn Lương là một đồng chí được đánh giá và sử dụng đúng năng lực”[1][1] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.103. Là một nhà lãnh đạo nòng cốt, Lê Văn Lương có công trong nhiều mặt của công tác Đảng, có tác phong làm việc nghiêm túc, cẩn trọng, công bằng. Trải qua nhiều chức vụ của Đảng và Nhà nước, dù ở cương vị nào đồng chí đều thể hiện sự thận trọng, khéo léo trong xử lý công việc, nhưng kiên định về nguyên tắc Đảng.

Năm 1948, khi được bầu bổ sung làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Chánh Văn phòng Trung ương, đồng chí là người làm việc bên cạnh Bác Hồ và Thường vụ Trung ương, cùng với đồng chí Trường Chinh giải quyết công việc hằng ngày của Đảng. Khi các ban xây dựng Đảng lần lượt ra đời: Đảng vụ (Tổ chức), Kiểm tra, Dân vận, Tài chính, với cương vị Chánh Văn phòng, đồng chí đã chủ động sắp xếp, giúp Trung ương bảo đảm sự vận hành có hiệu quả công việc của Đảng, giữ mối liên hệ giữa Trung ương và các khu ủy, tỉnh ủy. Trong thời gian làm Trưởng Ban Đảng vụ (từ 1948 – 1950), đồng chí đã giúp Trung ương Đảng tiến hành công tác chỉnh đốn tổ chức, mở nhiều cuộc vận động chỉnh đốn tổ chức phối hợp với cuộc vận động cải cách ruộng đất nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng; soạn thảo Điều lệ Đảng mới, làm quy trình nhân sự, lập danh sách những người ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị… góp phần vào công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II thành công.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, đồng chí Lê Văn Lương đã viết bài với chủ đề “Học tập Nghị quyết Đại hội Đảng như thế nào”. Thay mặt Đảng, đồng chí chỉ rõ mục đích của việc học Nghị quyết là: “làm cho mỗi đảng viên tăng gia tinh thần trách nhiệm, tăng gia ý thức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân”. Sau đó (ngày 26-7-1951), đồng chí viết bài: “Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng”, nêu rõ vai trò quan trọng của công tác tư tưởng trong công tác xây dựng Đảng; nêu cao ý thức phụng sự Đảng, phục vụ nhân dân, nhất là phải “nắm vững lập trường và quan điểm giai cấp” trong xây dựng Đảng; thực hiện đúng đường lối quần chúng của Đảng và nâng cao ý thức tổ chức. Đồng chí nêu rõ: “Tất cả cán bộ và đảng viên bất kỳ hoạt động ở ngành nào, cũ hay mới, công nông hay trí thức, cấp trên hay cấp dưới đều phải đoàn kết, nhất trí, phải hăng hái công tác, hăng hái chấp hành nghị quyết của đa số và cấp trên, tuyệt đối phải phục tùng kỷ luật của Đảng”.

Khi đảm nhiệm vai trò Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh. Công tác này đã góp phần phát triển được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh ở các cấp, các ngành, với cơ chế hoạt động ngày càng tiến bộ. Trong công tác tổ chức, đồng chí còn có trách nhiệm cao đối với sinh mạng chính trị của cán bộ, đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng, yêu thương cán bộ, công minh, kiên quyết bảo vệ cái đúng và người tốt, đấu tranh không khoan nhượng với cái sai; gần gũi quần chúng, vì sự tiến bộ của đồng chí mình. Đồng chí luôn đi sát cơ sở, đặc biệt chú trọng chỉ đạo việc thực hiện đường lối, chính sách cán bộ của Đảng.

Trong 10 năm làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (1976- 1986), bên cạnh sự ngổn ngang về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, đồng chí Lê Văn Lương rất chú trọng đến việc xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau. Nhiều chủ trương, phong trào hoạt động của thanh niên mang lại kết quả tích cực như sự ra đời Lực lượng Thanh niên xung phong Thủ đô xây dựng vùng kinh tế mới… đều do đồng chí đề xuất và trực tiếp chỉ đạo. Qua phong trào, nhiều cán bộ trẻ được tuyển lựa làm công tác Đoàn ở cơ sở thời kỳ ấy, nay đã giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy Đảng, chính quyền của thành phố Hà Nội.

Đồng chí Lê Văn Lương là học trò, cộng sự thân tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng cuối đời của Bác, khi Bác đang chữa bệnh ở nước ngoài, đồng chí đã luôn ở bên Bác, nhận những chỉ thị của Bác đối với Bộ Chính trị và truyền đạt lại các ý kiến của Bộ Chính trị đối với Bác. Tấm gương giản dị, chí công vô tư của Bác được đồng chí Lê Văn Lương thấm nhuần sâu sắc. Một ví dụ nhỏ: ngay sau khi không tham gia Ban Chấp hành Trung ương và thôi giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội, đồng chí đã có ý định trả lại căn nhà công vụ mà Trung ương dành cho mình. Ý nguyện ấy đã được người vợ thân yêu của đồng chí - đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận - thực hiện sau này.

Đồng chí Lê Văn Lương là một người lãnh đạo trung thực, ngay thẳng, dám nhận trách nhiệm trước sai lầm, thành thật sửa chữa, không vì lợi ích cá nhân, đồng thời cũng là người nhân hậu, sống có tình, có nghĩa với đồng chí, đồng bào. Ví dụ, trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, do không xuất phát từ thực tiễn nước ta, lại làm theo kinh nghiệm của nước ngoài nên đã phạm phải một số sai lầm. Trước khuyết điểm chung ấy, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã dũng cảm tự phê bình và đề ra phương hướng sửa chữa. Đồng chí Lê Văn Lương đã tích cực xuống cơ sở nắm tình hình và xác minh những sai lầm để báo cáo với Bác, với Trung ương Đảng, giúp Trung ương đề ra những biện pháp sửa sai. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, đồng chí Lê Văn Lương đã dũng cảm, trung thực nêu lên tất cả những sai lầm, thể hiện trong bản báo cáo do đồng chí chuẩn bị trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956. Bản báo cáo đã nhìn thẳng vào sự thật, tổng hợp đầy đủ những sai lầm, tổn thất để Hội nghị Trung ương xem xét và được Hội nghị Trung ương chấp nhận. Hội nghị Trung ương cũng đồng ý những biện pháp sửa sai đã đề ra trong báo cáo như: thả ngay những người bị bắt oan; minh oan ngay cho những người bị bắt oan, bị xử oan; khôi phục đảng tịch cho những đảng viên bị xử lý sai, v v… Do đó, công tác sửa sai của Đảng được tiến hành rất khẩn trương và có kết quả. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương thấy mình có phần trách nhiệm về sai lầm trong công tác chỉnh đốn tổ chức Đảng, đã tự xin rút khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, có hàng vạn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày. Trong số đó, cũng có một số người không chịu nổi sự tra tấn của địch, đã đầu hàng làm tay sai cho chúng. Do đó, một số tổ chức Đảng đã nghi kị, không tin tưởng những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, có nơi không bố trí đề bạt vào các vị trí quan trọng, không bố trí ở một số ban của Đảng. Nhận thấy bất cập ấy, đồng chí Lê Văn Lương, lúc đó là Thường trực Ban Bí thư đã đề xuất với Ban Bí thư ban hành Chỉ thị: “Về việc đón tiếp những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày là những người chiến thắng trở về”. Từ đó, những nghi kỵ, mặc cảm được giải tỏa. Những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị bắt được xác minh rõ ràng thì bố trí, đề bạt như những cán bộ khác. Rất nhiều anh em bị tù đày trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, vì chưa có chính sách thật phù hợp, nên chịu thiệt thòi nhiều mặt. Với sự tham mưu sáng suốt của đồng chí, Đảng, Nhà nước đã nhanh chóng ban hành chính sách mới kịp thời động viên số những người này.

Lúc còn là tù án chém ở Sài Gòn, những cử chỉ, hành động của đồng chí Lê Văn Lương không những thể hiện tấm lòng nhân hậu của đồng chí, mà còn cảm hóa được nhiều tên cai ngục ác ôn. Ví dụ, phía sau xà-lim có rặng đu đủ, chim đến kêu ríu rít. Nhưng ít ngày sau thấy tù án thường cứ vác sào, vác gậy đuổi. Hỏi mới biết cai ngục ra lệnh cho họ phải đuổi chim giữ đu đủ chín cho các tử tù ăn. Đồng chí đã gọi cai ngục vào, bảo: “Cho các anh đuổi chim, chúng tôi không nghe chim ríu rít nữa cũng được… Nhưng đu đủ chín phải để cho con nít ở khám phụ nữ. Chúng không có tội gì mà đã phải ở tù”. Hay một câu chuyện khác: Khi bọn lính gác tước qùa của tù án thường để cho tù chính trị án tử hình, đồng chí đã nói với bọn này: “Người ta ở tù so với chúng tôi còn khổ hơn, chúng tôi cấm các anh lấy của người ta như thế”. Với chính bọn lính gác, đồng chí cũng giác ngộ chúng: “Chúng tôi đánh thằng Tây, đánh đế quốc, thù oán gì các ông”.

Đi công tác ở Hải Phòng khi mới tiếp quản thành phố, đồng chí đã đến ngay các xóm lao động, cùng các đồng chí lãnh đạo của Hải Phòng xem xét giải quyết những vấn đề bức xúc nhất trong cuộc sống của người lao động.

Giữ cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội trong 10 năm (1976-1986), đồng chí Lê Văn Lương đã luôn luôn chăm lo, tìm cách giải quyết kịp thời các khó khăn của dân, thường xuyên kiểm tra để nắm chắc xem còn bao nhiêu gia đình chưa mua được gạo trong tháng, không có nước sạch để dùng, bao nhiêu nơi mất điện, thận trọng xem xét khiếu kiện của dân và có các ý kiến cần thiết cụ thể để giải quyết. Đồng chí đã đem hết tâm huyết lo cho thành phố, lo cho nhân dân vượt qua thời kỳ khó khăn đó.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, đồng chí Lê Văn Lương đã “nêu cao tấm gương trong sáng: trước quân thù - hiên ngang bất khuất, coi án chém nhẹ tựa lông hồng; với công việc - tận tụy, trung thành, liêm chính, bao giờ cũng đặt lợi ích cách mạng lên trên hết và trước hết; với đời sống của nhân dân - chăm lo thiết thực, cụ thể; với đồng chí - khiêm nhường, chu đáo, gần gũi thân tình... ; đối với bản thân - một tấm gương sáng chói về tự phê bình, một nếp sống đặc biệt trong sáng, giản dị và khoan dung”[2][2] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Sđd, Tr. 5../.

----------------------------------------------------
[1] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.103
[2] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Sđd, Tr. 5


25/03/2012

 ✯✯