Một làng quê có năm đại biểu dự Ðại hội lần thứ II của Ðảng
_ Tạ Quang Dũng _
Ðại hội II của Ðảng diễn ra từ ngày 11 đến 19-2-1951, giữa núi rừng Việt Bắc, tại xã Vinh Quang (Chiêm Hóa, Tuyên Quang). Trong số 158 đại biểu chính thức về dự đại hội, làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ (Văn Giang, Hưng Yên) vinh dự có năm người là đại biểu tham dự. Ðây là niềm tự hào của bao thế hệ cán bộ, đảng viên và người dân Xuân Cầu.
Từ sự kiện hiếm có trong lịch sử Ðảng
Chúng tôi may mắn được gặp đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư T.Ư Ðảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội, là một trong hai đại biểu tham dự Ðại hội II của Ðảng hiện còn sống. Mặc dù đã 97 tuổi, nhưng đồng chí vẫn nhớ rất rõ những kỷ niệm về Bác Hồ và Ðại hội II của Ðảng. Ðồng chí nhớ lại: Ðại hội II là Ðại hội đầu tiên sau khi Ðảng ta giành được chính quyền toàn quốc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành Ðảng cầm quyền, lãnh đạo cuộc kháng chiến cứu nước lần thứ nhất. Ðây cũng là lần đầu Ðảng ta, sau những năm rút vào hoạt động bí mật, ra hoạt động công khai với tên gọi mới - Ðảng Lao động Việt Nam. Nhiệm vụ chính của Ðại hội là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Ðảng Lao động Việt Nam. Chủ đề này của Ðại hội đã được nêu bật trong Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc cũng như trong Luận cương Cách mạng Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày. Ðại hội II thể hiện một cách sâu sắc bản lĩnh chính trị, tầm trí tuệ, tinh thần cách mạng, dân chủ kỷ luật và đoàn kết, thống nhất trong Ðảng... Ấn tượng đặc biệt đối với tôi là những phút giải lao trong những ngày diễn ra Ðại hội. Trong không khí phấn khởi và chân tình, Bác Hồ đã tới chia sẻ, hỏi thăm, động viên các đại biểu về dự Ðại hội.
Ðại hội II của Ðảng với sự tham dự của 158 đại biểu chính thức, đại diện các lớp đồng chí từ ngày Ðảng mới thành lập trên mọi miền Tổ quốc. Trong số các đại biểu tham dự Ðại hội lần này có năm đại biểu là người con làng Xuân Cầu, gồm các đồng chí: Lê Văn Lương (tên thật là Nguyễn Công Miều), Tô Quang Ðẩu, Lê Giản (Tô Gĩ), Tô Duy, Trần Bình (Nguyễn Thưởng). Theo đồng chí Nguyễn Văn Trân, một làng quê mà có đến năm người là đại biểu cùng dự một kỳ Ðại hội là sự kiện hiếm có trong lịch sử Ðảng ta. Ðồng chí Trân kể: "Tại Ðại hội II của Ðảng, đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào BCH T.Ư, được T.Ư bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Tôi có nhiều dịp làm việc và trò chuyện với các đồng chí này, nhất là đồng chí Lê Văn Lương trong những năm giúp việc Bác Hồ. Họ là những chiến sĩ cộng sản kiên trung, một lòng, một dạ theo Ðảng và sau này đã trở thành những cán bộ cao cấp của Ðảng, Nhà nước".
Vùng quê giàu truyền thống
Từ xa xưa, Xuân Cầu (trước đây có tên là Hoa Kiều, Hoa Cầu, Huê Cầu) vốn là miền đất nổi tiếng không chỉ có nhiều người kiệt xuất mà còn là mảnh đất cửa ngõ phía đông của kinh thành Thăng Long xưa. Xuân Cầu án ngữ cả đường thủy và đường bộ lai kinh của hào kiệt trấn Ðông và là đường đi trấn giữ vùng Hải Ðông, có cửa biển Vân Ðồn giao thương với bên ngoài của Nhà nước phong kiến Ðại Việt. Làng Xuân Cầu có tên trong "Dư Ðịa Chí" (1435) của Nguyễn Trãi.
Trong suốt chiều dài lịch sử, vùng đất này luôn sản sinh ra những danh nhân, những nhà khoa bảng cho đất nước. Xuân Cầu có đến 12 người thi đỗ đại khoa trong các triều đại phong kiến, nhất là dòng họ Nguyễn và họ Tô. Thuộc dòng họ Nguyễn, có cụ Nguyễn Hằng đỗ tiến sĩ năm 1586, Nguyễn Tính đỗ tiến sĩ năm 1640, Nguyễn Hành đỗ tiến sĩ năm 1688, Nguyễn Gia Cát đỗ tiến sĩ năm 1787... Ðối với dòng họ Tô, có cụ Tô Trân đỗ tiến sĩ năm 1826, Tô Ðăng đỗ cử nhân năm 1867, Tô Huân đỗ phó bảng năm 1868, Tô Ngọc Huyền đỗ cử nhân năm 1825, Tô Ngọc Nữu đỗ cử nhân năm 1850... Ðầu thế kỷ 20, làng Xuân Cầu lại xuất hiện nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan, với nhiều tác phẩm văn học có giá trị lớn, đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn học Việt Nam và Tô Ngọc Vân - họa sĩ bậc thầy trong làng hội họa nước ta, người đầu tiên được vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bắc Bộ Phủ năm 1954...
Xuân Cầu là một làng quê giàu truyền thống cách mạng, với những người con ưu tú, những chiến sĩ cộng sản kiên trung như: Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương (tức Nguyễn Công Miều), Tô Quang Ðẩu, Tô Gĩ (Lê Giản), Tô Duy... Tấm gương liệt sĩ Tô Hiệu sáng mãi trong lịch sử dân tộc ta, với tinh thần lạc quan cách mạng. Tấm gương về bản lĩnh và khí phách cách mạng của đồng chí Lê Văn Lương. Trong suốt 15 năm lao tù, trong đó có 11 năm bị giam giữ tại nhà tù Côn Ðảo, nơi được coi là địa ngục trần gian, nhưng đồng chí luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất người cộng sản kiên trung, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng...
Từ sự kiện hiếm có trong lịch sử Ðảng
Chúng tôi may mắn được gặp đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Bí thư T.Ư Ðảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội, là một trong hai đại biểu tham dự Ðại hội II của Ðảng hiện còn sống. Mặc dù đã 97 tuổi, nhưng đồng chí vẫn nhớ rất rõ những kỷ niệm về Bác Hồ và Ðại hội II của Ðảng. Ðồng chí nhớ lại: Ðại hội II là Ðại hội đầu tiên sau khi Ðảng ta giành được chính quyền toàn quốc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành Ðảng cầm quyền, lãnh đạo cuộc kháng chiến cứu nước lần thứ nhất. Ðây cũng là lần đầu Ðảng ta, sau những năm rút vào hoạt động bí mật, ra hoạt động công khai với tên gọi mới - Ðảng Lao động Việt Nam. Nhiệm vụ chính của Ðại hội là đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Ðảng Lao động Việt Nam. Chủ đề này của Ðại hội đã được nêu bật trong Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc cũng như trong Luận cương Cách mạng Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày. Ðại hội II thể hiện một cách sâu sắc bản lĩnh chính trị, tầm trí tuệ, tinh thần cách mạng, dân chủ kỷ luật và đoàn kết, thống nhất trong Ðảng... Ấn tượng đặc biệt đối với tôi là những phút giải lao trong những ngày diễn ra Ðại hội. Trong không khí phấn khởi và chân tình, Bác Hồ đã tới chia sẻ, hỏi thăm, động viên các đại biểu về dự Ðại hội.
Ðại hội II của Ðảng với sự tham dự của 158 đại biểu chính thức, đại diện các lớp đồng chí từ ngày Ðảng mới thành lập trên mọi miền Tổ quốc. Trong số các đại biểu tham dự Ðại hội lần này có năm đại biểu là người con làng Xuân Cầu, gồm các đồng chí: Lê Văn Lương (tên thật là Nguyễn Công Miều), Tô Quang Ðẩu, Lê Giản (Tô Gĩ), Tô Duy, Trần Bình (Nguyễn Thưởng). Theo đồng chí Nguyễn Văn Trân, một làng quê mà có đến năm người là đại biểu cùng dự một kỳ Ðại hội là sự kiện hiếm có trong lịch sử Ðảng ta. Ðồng chí Trân kể: "Tại Ðại hội II của Ðảng, đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào BCH T.Ư, được T.Ư bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Tôi có nhiều dịp làm việc và trò chuyện với các đồng chí này, nhất là đồng chí Lê Văn Lương trong những năm giúp việc Bác Hồ. Họ là những chiến sĩ cộng sản kiên trung, một lòng, một dạ theo Ðảng và sau này đã trở thành những cán bộ cao cấp của Ðảng, Nhà nước".
Vùng quê giàu truyền thống
Từ xa xưa, Xuân Cầu (trước đây có tên là Hoa Kiều, Hoa Cầu, Huê Cầu) vốn là miền đất nổi tiếng không chỉ có nhiều người kiệt xuất mà còn là mảnh đất cửa ngõ phía đông của kinh thành Thăng Long xưa. Xuân Cầu án ngữ cả đường thủy và đường bộ lai kinh của hào kiệt trấn Ðông và là đường đi trấn giữ vùng Hải Ðông, có cửa biển Vân Ðồn giao thương với bên ngoài của Nhà nước phong kiến Ðại Việt. Làng Xuân Cầu có tên trong "Dư Ðịa Chí" (1435) của Nguyễn Trãi.
Trong suốt chiều dài lịch sử, vùng đất này luôn sản sinh ra những danh nhân, những nhà khoa bảng cho đất nước. Xuân Cầu có đến 12 người thi đỗ đại khoa trong các triều đại phong kiến, nhất là dòng họ Nguyễn và họ Tô. Thuộc dòng họ Nguyễn, có cụ Nguyễn Hằng đỗ tiến sĩ năm 1586, Nguyễn Tính đỗ tiến sĩ năm 1640, Nguyễn Hành đỗ tiến sĩ năm 1688, Nguyễn Gia Cát đỗ tiến sĩ năm 1787... Ðối với dòng họ Tô, có cụ Tô Trân đỗ tiến sĩ năm 1826, Tô Ðăng đỗ cử nhân năm 1867, Tô Huân đỗ phó bảng năm 1868, Tô Ngọc Huyền đỗ cử nhân năm 1825, Tô Ngọc Nữu đỗ cử nhân năm 1850... Ðầu thế kỷ 20, làng Xuân Cầu lại xuất hiện nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan, với nhiều tác phẩm văn học có giá trị lớn, đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn học Việt Nam và Tô Ngọc Vân - họa sĩ bậc thầy trong làng hội họa nước ta, người đầu tiên được vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bắc Bộ Phủ năm 1954...
Xuân Cầu là một làng quê giàu truyền thống cách mạng, với những người con ưu tú, những chiến sĩ cộng sản kiên trung như: Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương (tức Nguyễn Công Miều), Tô Quang Ðẩu, Tô Gĩ (Lê Giản), Tô Duy... Tấm gương liệt sĩ Tô Hiệu sáng mãi trong lịch sử dân tộc ta, với tinh thần lạc quan cách mạng. Tấm gương về bản lĩnh và khí phách cách mạng của đồng chí Lê Văn Lương. Trong suốt 15 năm lao tù, trong đó có 11 năm bị giam giữ tại nhà tù Côn Ðảo, nơi được coi là địa ngục trần gian, nhưng đồng chí luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất người cộng sản kiên trung, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng...
Từ trái qua phải: Ðồng chí Tô Duy, Lê Giản, Lê Văn Lương, Trần Bình, Tô Quang Ðẩu tại Ðại hội Ðảng lần thứ II (1951) ở Việt Bắc. Ảnh Tư liệu.Phát huy truyền thống quê hương
Cụ Tô Hiểu, 87 tuổi đời, 66 năm tuổi Ðảng nhớ rất rõ những kỷ niệm khi được chứng kiến tình cảm của đồng chí Lê Văn Lương với quê hương Xuân Cầu. Mặc dù hoạt động cách mạng xa quê, nhưng đồng chí vẫn luôn hướng về quê hương. Ðồng chí Lê Văn Lương trực tiếp về đổ móng xây dựng nhà truyền thống của xã Nghĩa Trụ tại làng Xuân Cầu, khánh thành cây cầu nối xã với quốc lộ 5... Trong câu chuyện thường ngày, cụ Tô Hiểu vẫn hay kể cho con, cháu nghe về truyền thống quê hương, cụ cho biết: "Xuân Cầu tự hào vì có năm người con là đại biểu dự Ðại hội II của Ðảng và điều đặc biệt nữa là năm đại biểu ấy đều là những người con ưu tú của dòng họ Nguyễn và họ Tô ở Xuân Cầu. Xuân Cầu còn tự hào có bốn người con ưu tú được đặt tên đường phố lớn ở Hà Nội: Lê Văn Lương, Tô Hiệu, Nguyễn Công Hoan, Tô Ngọc Vân. Thời nào Xuân Cầu cũng có những người con ưu tú và thế hệ trẻ Xuân Cầu hôm nay cần phải tiếp nối truyền thống văn hóa, cách mạng của quê hương".
Năm 2012 đối với người dân Xuân Cầu có ý nghĩa đặc biệt, là năm Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Tô Hiệu và đồng chí Lê Văn Lương. Ðây cũng là dịp để thế hệ trẻ làng Xuân Cầu ôn lại truyền thống cách mạng của quê hương. Bí thư Ðoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Nghĩa Trụ Lê Văn Thành cho biết: "Hằng năm, chúng tôi thường tổ chức lễ dâng hương tại nhà thờ các đồng chí Tô Hiệu, Lê Văn Lương. Ðến đây, chúng tôi có dịp ôn lại truyền thống của quê hương và nhất là tấm gương của những nhà cách mạng tiền bối. Ðiều đó thôi thúc lớp trẻ của Xuân Cầu hôm nay phải nỗ lực phấn đấu hơn nữa trong lao động, sản xuất, học tập để xứng đáng với truyền thống của các thế hệ đi trước. Những năm qua, Ðoàn thanh niên xã tích cực tham gia vào thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực".
Trong những năm đổi mới, xã Nghĩa Trụ cũng như thôn Xuân Cầu, đã có nhiều đổi thay theo hướng tích cực. Bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Tại thôn Xuân Cầu, Quỹ khuyến học của các dòng họ Tô và họ Nguyễn rất phát triển nhằm động viên con em nỗ lực học tập. Hằng năm, Xuân Cầu có 40-50 em thi đỗ các trường đại học. Bí thư Ðảng ủy xã Nghĩa Trụ Lê Ðức Dân phấn khởi cho chúng tôi biết: Cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Ðảng bộ xã luôn quan tâm công tác xây dựng Ðảng. Trong nhiều năm liền, Nghĩa Trụ được Tỉnh ủy Hưng Yên công nhận là Ðảng bộ trong sạch, vững mạnh, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 2012, Ðảng bộ xã đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) về xây dựng Ðảng, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực như các phong trào xây dựng quỹ "Tình đồng đội" của Hội Cựu chiến binh, xây dựng gia đình "bốn chuẩn mực" của Hội Phụ nữ, tri ân các anh hùng, liệt sĩ của Ðoàn Thanh niên xã...
Tự hào là một vùng quê có truyền thống yêu nước và cách mạng người dân Xuân Cầu đều nhận thức được trách nhiệm để truyền thống ấy tiếp tục tỏa sáng, có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước.
✯✯✯
Nguồn Báo Nhân Dân điện tử.
Khánh thành chùa Xuân Cầu
_ Cẩm Vân _
Sáng ngày 18 tháng 03 năm 2012 tại chùa Xuân Cầu – thôn Tam Kỳ - Phúc Thọ - Hưng Yên đã long trọng tổ chức lễ Khánh thành chùa Xuân Cầu.
Tham dự và chứng minh buổi lễ có
chư Tôn đức giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN);
HT. Thích Thanh Dũng – Thành viên HĐCM GHPGVN;
HT. Thích Thanh Nhiễu Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu (1952- nay) là một trong những lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam,[1] Ông hiện là Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Bái Đính (Ninh Bình).[2]
Thân thế
Sư thế danh là Vũ Đức Chính, sinh năm 1952 tại Nam Trực, Nam Định.[3] Năm 11 tuổi, sư xuất gia tu hành tại chùa Nhất Trụ (Ninh Bình) và thọ Đại giới vào năm 20 tuổi.
Hoạt động Đạo - Đời
Sau Hội nghị thống nhất các tông phái Phật giáo Việt Nam để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, Sư được cử làm nhân viên Văn phòng I Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Từ năm 1987, Sư được Trung ương Giáo hội cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự kiêm Phó Văn phòng I. Trong giai đoạn 1997-2007, Sư đảm nhiệm chức Phó Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự kiêm Chánh Văn phòng I Trung ương Giáo hội.
Tại Đại hội VI của Giáo hội Phật giáo Việt Nam diễn ra tại thủ đô Hà Nội vào năm 2007, Sư được suy cử đảm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự.
Tại Hội nghị Thông qua việc giới thiệu Thượng tọa Thích Thanh Nhiễu đảm nhiệm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự, ngày 26 tháng 12 năm 2011 tại thành phố Hồ Chí Minh, Với 100% phiếu thuận, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chính thức thông qua việc giới thiệu Thượng tọa Thích Thanh Nhiễu đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực hội đồng trị sự thay thế Trưởng lão hòa thượng Thích Thanh Tứ - nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS đã viên tịch.[4] – Phó chủ tịch thường trực HĐTS GHPGVN;
Nhị vị tôn đức Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN
HT. Thích Thiện Nhơn
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn
HT.TS Thích Thiện Nhơn hiện là Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Trong các nhiệm kỳ trước, Hòa thượng từng đảm nhiệm các chức vụ:
Phó ban Trị sự - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo TP.HCM,
Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học,
Phó ban Hoằng pháp TƯ và nhiều chức vụ quan trọng khác.
Hòa thượng là tác giả của vài chục tác phẩm Phật học có giá trị, vừa là nhà giáo dục - hoằng pháp vừa là nhà hành chính Phật giáo.
Theo Đạo Phật Ngày Nay – Tổng thư ký HĐTS GHPGVN;
HT. Thích Bảo Nghiêm
Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm
TT.Thích Bảo Nghiêm thế danh Đặng Minh Châu Sinh ngày 27/12/1956 tại xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Hiện là Phó chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Hoằng Pháp TW.GHPGVN, Trụ trì chùa Lý Triều Quốc Sư - số 50 phố Lý Quốc Sư quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. www.chuabang.com
Sinh ra và lớn lên trong gia đình cách mạng, bố là Đảng viên, bác sỹ Bệnh viện tỉnh Thái Bình, mẹ là Y tá Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Bungari tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ sống, đi học văn hóa với bố mẹ ở xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Do nhà gần chùa nên sớm tối lui tới chùa lễ Phật và mến mộ đạo Phật. Năm 1971 xin phép cha mẹ xuất gia tu tại chùa Diên Phúc thôn Nam Hà, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
+ Năm 1972, được tu học tại Trường tu học Phật Pháp Trung Ương. Năm 1981 – 1985 học tại trường cao cấp Phật Học Việt Nam khoá I ( nay là Học viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội- chùa Quán Sứ Hà Nội). Trong kỳ thi tốt nghiệp là một trong 6 vị tăng ni sinh xuất sắc đỗ loại ưu.
+ Tháng 2/1986 được Giáo hội bổ nhiệm công tác và lưu trú Tại văn phòng Thành Hội Phật Giáo Hà Nội ( chùa Bà Đá số 3 phố Nhà thờ Hà Nội.
+ Tháng 11/1987 tại Đại hội Phật Giáo Hà Nội lần thứ II được cử chánh Văn Phòng ban trị sự Thành Hội.
+ Tháng2/1989 được Ban giám hiệu mời làm giảng sư và Thư Ký trường Cơ bản Phật học Hà Nội.
+ Tháng 3/1992 Thành hội bổ nhiệm trụ trì Chùa Lý Triều Quốc Sư - số 50 phố Lý Quốc Sư Hà Nội.
+ Tháng 4/1992 Đại hội Thành hội Phật Giáo Hà Nội nhiệm kỳ III được cử giữ chức Chánh Thư Ký kiêm Chánh Văn Phòng Thành Hội Phật Giáo Hà Nội.
+ Tháng 2 năm 1992 được bổ nhiệm trụ trì chùa Lý Triều Quốc Sư tại số 50 đường Lý Quốc Sư, Hà Nội.
+ Tháng 11/1992 Đại hội Phật Giáo Việt Nam lần thứ III được cử thành viên Hội đồng trị sự Trung Ương, Chánh thư ký Ban hướng dẫn nam nữ Phật tử Trung Ương.
+ Năm 1993 Ban giám hiệu Trường Cao cấp Phật Học Việt Nam thỉnh mời làm giảng sư của Trường.
+ Năm 1994 Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Thành phố Hà Nội được tham gia Uỷ Viên Uỷ ban khoá 12 và Uỷ vên Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc quận Hoàn Kiếm.
+ Năm 1994 tham gia Uỷ viên Uỷ ban Hoà bình Thành Phố Hà Nội.
+ Ngày 02.06.1996: Được bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Tiên Tự hay còn gọi là Chùa Bằng A. tại Phường Hoằng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
+ Tháng 8/1997: Đại hội kỳ IV Thành hội Phật Giáo Hà Nội được tái cử Chánh thư ký kiêm Chánh Văn phòng Thành Hội.
+ Tháng 11/1997 Đại hội lần thứ IV GPGVN được suy cử trong Ban Thường trực kiêm Uỷ viên kiểm soát Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó ban Hoằng Pháp Trung ương, Phó thư ký Ban Giáo Dục Tăng Ni Trung ương. Tại Đại hội này đã được Giáo Hội tấn phong Giáo Phẩm Thượng Toạ.
+ Tháng 12/1997 Ban trị sự Thành Hội cử chức Phó hiệu trưởng kiêm Giáo Vụ Trường cơ bản Phật học Hà Nội.
+ Tháng 2/1999, được bổ nhiệm trụ trì Chùa Cảm Sơn tại Phường Đại Lài, TP Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Tháng 8/1999 Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Thành Phố Hà Nội chức lần thứ 13, được tái cử Uỷ viên Uỷ ban và là Uỷ viên UBMTTQ quận Hoàn Kiếm và phường Hàng Trống(đương nhiệm).
+ Giới đàn Phật Giáo Hà Nội được tổ chức hàng năm sau khoá hạ an cư, được thỉnh làm điển lễ và giới sư các giới đàn.
+ Năm 2001 là ủy viên hội bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long Hà Nội.
+ Năm 2002: là Phó Ban thường trực Ban trị sự Thành hội Phật Giáo Hà Nội - nhiệm kỳ 5.
- Tại Đại Hội Đại biểu Phật Giáo toàn quốc của GHPG Việt Nam lần V, được cử làm Ủy viên Thư ký Hội Đồng trị sự GHPG Việt Nam nhiệm kỳ 2002 - 2007, kiêm Phó trưởng Ban Hoằng Pháp Trung Ương.
+ Năm 2004: Tái đắc cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khóa 13 nhiệm kỳ 2004 - 2009 và tái đắc cử là ủy viên Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành Phố Hà Nội khoá 14 nhiệm kỳ 2004 - 2009.
+ Năm 2005: được cử làm Trưởng Ban đại diện Phật Giáo tỉnh Hà Tĩnh.
+ Năm 2006: vào Tháng 7, được mời làm Phó viện trưởng Học viện PG Việt Nam tại Hà Nội, phụ trách giáo dục đào tạo và công tác của sinh viên.
+ Năm 2007: là ủy viên Ban Chấp hành TW Hội Chữ Thập Đỏ khóa 8. Tại Đại Hội Đại Biểu Phật Giáo Tỉnh Hà Tĩnh lần I tổ chức vào Tháng 8, được suy cử làm Trưởng Ban Trị sự tỉnh Hà Tĩnh. Cũng trong Tháng 8, được suy cử làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Hòa bình TP Hà Nội.
- Tháng 9: Tại Đại Hội VI của Thành Hội PGHN được suy cử là Phó trưởng Ban thường trực Hội Đồng Trị Sự Thành Hội PG Hà Nội nhiệm kỳ 2007 - 2012.
- Tháng 10: được cử làm Phó CT Ủy Ban Quốc Tế Phật Đản của Việt nam ( IOC).
- Tháng 12: tại Đại Hội VI của GHPG Việt Nam, được suy cử làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự TW GHPG Việt nam kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp TW GHPG Việt Nam nhiệm kỳ 2007 - 2012.
+ Năm 2008: Vào trung tuần Tháng 2 năm 2008, Thủ tướng Chính Phủ cử làm Ủy viên Ban điều phối Đại Lễ Phật Đản LHQ tại Việt Nam kiêm Trưởng ban trang trí khánh tiết tại Đại Lễ.
Tháng 12, Tại Hội Nghị Hợp nhất Phật Giáo Hà Nội và Hà Tây được cử làm Trưởng Ban trị sự Thành Hội PG Hà Nội mới.
+ Năm 2009: vào tháng 4 là Trưởng phái đoàn Đại biểu của GHPG Việt Nam đi Hoằng Pháp tại các nước Châu Âu.
+ Từ năm 2000 đến nay, là Giới sư các Giới Đàn của Thành Hội PG Hà Nội tổ chức (mỗi năm một đàn). Kiêm Giới sư của các Giới đàn tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh Hà Nam, Thanh Hóa. Là giảng sư Trường Trung cấp Phật Học Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Nam Định khóa I, II. Là Giảng sư Học viện PG Việt Nam khóa 3 đến khóa 6.
+ Từ năm 1988 đến năm 1992: là giáo viên giảng dạy Phật Pháp tại Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội. Cũng là vị tu sỹ đầu tiên làm giảng viên dạy Phật Pháp tại trường Quốc gia hệ Đại học.
- Các phần thưởng, bằng khen trong quá trình làm công tác Phật sự và Hoằng Pháp:
- được nhiều bằng tuyên dương công đức của GHPG Việt Nam
- 2 Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ: trong đó
1 kỷ niệm chương của UB Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
1 cúp vàng Vì Sự Phát Triển của Cộng Đồng.(Năm 2010)
- 01 Bằng khen của Hội Đồng Nhân Dân TP Hà Nội
- 04 Bằng khen của Chủ tịch UB Nhân Dân TP Hà Nội và Bằng khen của UB MT Tổ Quốc TP Hà Nội.
- 01 huy chương Vì Hòa Bình Hữu Nghị giữa các Dân Tộc của Đoàn Chủ Tịch Liên Hiệp các tổ chức Hữu Nghị Việt Nam tặng.
Trong quá trình công tác, chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ với trách nhiệm của một tu sĩ Phật Giáo, hoạt động theo phương châm của Giáo Hội “Đạo pháp dân tộc, Chủ nghĩa xã hội”.
Theo Đại Đức Giảng sư – Trưởng Ban hoằng pháp TW;
HT. Thích Gia Quang – Phó tổng thư ký HĐTS GHPGVN
cùng Tăng Ni BTS Tỉnh hội Phật giáo Hưng Yên và đông đảo tín đồ Phật tử.
Tới dự có Trung tướng Tô Lâm – Thứ trưởng Bộ công an
cùng các vị lãnh đạo đại diện các cơ quan ban ngành Trung ương và địa phương cùng về tham dự.
Sau nghi lễ niệm hồng danh đức Bản sư, ĐĐ. Thích Thanh Quang tuyên bố lý do giới thiệu thành phần tham dự.
Tại buổi lễ ông Lê Minh Đức – thay mặt UBND xã Nghĩa Trụ đọc diễn văn khai mạc:
Được biết chùa Xuân Cầu có lịch sử từ lâu đời, năm 1954 đã bị chiến tranh phá hủy, nhân dân không còn nơi thờ cúng, từ năm 2010 chùa xây dựng lại ngôi Tam bảo, nhà Tổ, nhà mẫu khang trang, tôn nghiêm.
Tham dự và chứng minh buổi lễ có
chư Tôn đức giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN);
HT. Thích Thanh Dũng – Thành viên HĐCM GHPGVN;
HT. Thích Thanh Nhiễu Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu (1952- nay) là một trong những lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam,[1] Ông hiện là Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Bái Đính (Ninh Bình).[2]Thân thế
Sư thế danh là Vũ Đức Chính, sinh năm 1952 tại Nam Trực, Nam Định.[3] Năm 11 tuổi, sư xuất gia tu hành tại chùa Nhất Trụ (Ninh Bình) và thọ Đại giới vào năm 20 tuổi.
Hoạt động Đạo - Đời
Sau Hội nghị thống nhất các tông phái Phật giáo Việt Nam để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, Sư được cử làm nhân viên Văn phòng I Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Từ năm 1987, Sư được Trung ương Giáo hội cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự kiêm Phó Văn phòng I. Trong giai đoạn 1997-2007, Sư đảm nhiệm chức Phó Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự kiêm Chánh Văn phòng I Trung ương Giáo hội.
Tại Đại hội VI của Giáo hội Phật giáo Việt Nam diễn ra tại thủ đô Hà Nội vào năm 2007, Sư được suy cử đảm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự.
Tại Hội nghị Thông qua việc giới thiệu Thượng tọa Thích Thanh Nhiễu đảm nhiệm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự, ngày 26 tháng 12 năm 2011 tại thành phố Hồ Chí Minh, Với 100% phiếu thuận, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chính thức thông qua việc giới thiệu Thượng tọa Thích Thanh Nhiễu đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực hội đồng trị sự thay thế Trưởng lão hòa thượng Thích Thanh Tứ - nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS đã viên tịch.[4] – Phó chủ tịch thường trực HĐTS GHPGVN;
Nhị vị tôn đức Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN
HT. Thích Thiện Nhơn
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn HT.TS Thích Thiện Nhơn hiện là Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Trong các nhiệm kỳ trước, Hòa thượng từng đảm nhiệm các chức vụ:
Phó ban Trị sự - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo TP.HCM,
Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học,
Phó ban Hoằng pháp TƯ và nhiều chức vụ quan trọng khác.
Hòa thượng là tác giả của vài chục tác phẩm Phật học có giá trị, vừa là nhà giáo dục - hoằng pháp vừa là nhà hành chính Phật giáo.
Theo Đạo Phật Ngày Nay – Tổng thư ký HĐTS GHPGVN;
HT. Thích Bảo Nghiêm
Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm TT.Thích Bảo Nghiêm thế danh Đặng Minh Châu Sinh ngày 27/12/1956 tại xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Hiện là Phó chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Hoằng Pháp TW.GHPGVN, Trụ trì chùa Lý Triều Quốc Sư - số 50 phố Lý Quốc Sư quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. www.chuabang.com
Sinh ra và lớn lên trong gia đình cách mạng, bố là Đảng viên, bác sỹ Bệnh viện tỉnh Thái Bình, mẹ là Y tá Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Bungari tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ sống, đi học văn hóa với bố mẹ ở xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Do nhà gần chùa nên sớm tối lui tới chùa lễ Phật và mến mộ đạo Phật. Năm 1971 xin phép cha mẹ xuất gia tu tại chùa Diên Phúc thôn Nam Hà, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
+ Năm 1972, được tu học tại Trường tu học Phật Pháp Trung Ương. Năm 1981 – 1985 học tại trường cao cấp Phật Học Việt Nam khoá I ( nay là Học viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội- chùa Quán Sứ Hà Nội). Trong kỳ thi tốt nghiệp là một trong 6 vị tăng ni sinh xuất sắc đỗ loại ưu.
+ Tháng 2/1986 được Giáo hội bổ nhiệm công tác và lưu trú Tại văn phòng Thành Hội Phật Giáo Hà Nội ( chùa Bà Đá số 3 phố Nhà thờ Hà Nội.
+ Tháng 11/1987 tại Đại hội Phật Giáo Hà Nội lần thứ II được cử chánh Văn Phòng ban trị sự Thành Hội.
+ Tháng2/1989 được Ban giám hiệu mời làm giảng sư và Thư Ký trường Cơ bản Phật học Hà Nội.
+ Tháng 3/1992 Thành hội bổ nhiệm trụ trì Chùa Lý Triều Quốc Sư - số 50 phố Lý Quốc Sư Hà Nội.
+ Tháng 4/1992 Đại hội Thành hội Phật Giáo Hà Nội nhiệm kỳ III được cử giữ chức Chánh Thư Ký kiêm Chánh Văn Phòng Thành Hội Phật Giáo Hà Nội.
+ Tháng 2 năm 1992 được bổ nhiệm trụ trì chùa Lý Triều Quốc Sư tại số 50 đường Lý Quốc Sư, Hà Nội.
+ Tháng 11/1992 Đại hội Phật Giáo Việt Nam lần thứ III được cử thành viên Hội đồng trị sự Trung Ương, Chánh thư ký Ban hướng dẫn nam nữ Phật tử Trung Ương.
+ Năm 1993 Ban giám hiệu Trường Cao cấp Phật Học Việt Nam thỉnh mời làm giảng sư của Trường.
+ Năm 1994 Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Thành phố Hà Nội được tham gia Uỷ Viên Uỷ ban khoá 12 và Uỷ vên Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc quận Hoàn Kiếm.
+ Năm 1994 tham gia Uỷ viên Uỷ ban Hoà bình Thành Phố Hà Nội.
+ Ngày 02.06.1996: Được bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Tiên Tự hay còn gọi là Chùa Bằng A. tại Phường Hoằng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
+ Tháng 8/1997: Đại hội kỳ IV Thành hội Phật Giáo Hà Nội được tái cử Chánh thư ký kiêm Chánh Văn phòng Thành Hội.
+ Tháng 11/1997 Đại hội lần thứ IV GPGVN được suy cử trong Ban Thường trực kiêm Uỷ viên kiểm soát Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó ban Hoằng Pháp Trung ương, Phó thư ký Ban Giáo Dục Tăng Ni Trung ương. Tại Đại hội này đã được Giáo Hội tấn phong Giáo Phẩm Thượng Toạ.
+ Tháng 12/1997 Ban trị sự Thành Hội cử chức Phó hiệu trưởng kiêm Giáo Vụ Trường cơ bản Phật học Hà Nội.
+ Tháng 2/1999, được bổ nhiệm trụ trì Chùa Cảm Sơn tại Phường Đại Lài, TP Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Tháng 8/1999 Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Thành Phố Hà Nội chức lần thứ 13, được tái cử Uỷ viên Uỷ ban và là Uỷ viên UBMTTQ quận Hoàn Kiếm và phường Hàng Trống(đương nhiệm).
+ Giới đàn Phật Giáo Hà Nội được tổ chức hàng năm sau khoá hạ an cư, được thỉnh làm điển lễ và giới sư các giới đàn.
+ Năm 2001 là ủy viên hội bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long Hà Nội.
+ Năm 2002: là Phó Ban thường trực Ban trị sự Thành hội Phật Giáo Hà Nội - nhiệm kỳ 5.
- Tại Đại Hội Đại biểu Phật Giáo toàn quốc của GHPG Việt Nam lần V, được cử làm Ủy viên Thư ký Hội Đồng trị sự GHPG Việt Nam nhiệm kỳ 2002 - 2007, kiêm Phó trưởng Ban Hoằng Pháp Trung Ương.
+ Năm 2004: Tái đắc cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khóa 13 nhiệm kỳ 2004 - 2009 và tái đắc cử là ủy viên Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành Phố Hà Nội khoá 14 nhiệm kỳ 2004 - 2009.
+ Năm 2005: được cử làm Trưởng Ban đại diện Phật Giáo tỉnh Hà Tĩnh.
+ Năm 2006: vào Tháng 7, được mời làm Phó viện trưởng Học viện PG Việt Nam tại Hà Nội, phụ trách giáo dục đào tạo và công tác của sinh viên.
+ Năm 2007: là ủy viên Ban Chấp hành TW Hội Chữ Thập Đỏ khóa 8. Tại Đại Hội Đại Biểu Phật Giáo Tỉnh Hà Tĩnh lần I tổ chức vào Tháng 8, được suy cử làm Trưởng Ban Trị sự tỉnh Hà Tĩnh. Cũng trong Tháng 8, được suy cử làm Phó Chủ tịch Ủy Ban Hòa bình TP Hà Nội.
- Tháng 9: Tại Đại Hội VI của Thành Hội PGHN được suy cử là Phó trưởng Ban thường trực Hội Đồng Trị Sự Thành Hội PG Hà Nội nhiệm kỳ 2007 - 2012.
- Tháng 10: được cử làm Phó CT Ủy Ban Quốc Tế Phật Đản của Việt nam ( IOC).
- Tháng 12: tại Đại Hội VI của GHPG Việt Nam, được suy cử làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự TW GHPG Việt nam kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp TW GHPG Việt Nam nhiệm kỳ 2007 - 2012.
+ Năm 2008: Vào trung tuần Tháng 2 năm 2008, Thủ tướng Chính Phủ cử làm Ủy viên Ban điều phối Đại Lễ Phật Đản LHQ tại Việt Nam kiêm Trưởng ban trang trí khánh tiết tại Đại Lễ.
Tháng 12, Tại Hội Nghị Hợp nhất Phật Giáo Hà Nội và Hà Tây được cử làm Trưởng Ban trị sự Thành Hội PG Hà Nội mới.
+ Năm 2009: vào tháng 4 là Trưởng phái đoàn Đại biểu của GHPG Việt Nam đi Hoằng Pháp tại các nước Châu Âu.
+ Từ năm 2000 đến nay, là Giới sư các Giới Đàn của Thành Hội PG Hà Nội tổ chức (mỗi năm một đàn). Kiêm Giới sư của các Giới đàn tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh Hà Nam, Thanh Hóa. Là giảng sư Trường Trung cấp Phật Học Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Nam Định khóa I, II. Là Giảng sư Học viện PG Việt Nam khóa 3 đến khóa 6.
+ Từ năm 1988 đến năm 1992: là giáo viên giảng dạy Phật Pháp tại Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội. Cũng là vị tu sỹ đầu tiên làm giảng viên dạy Phật Pháp tại trường Quốc gia hệ Đại học.
- Các phần thưởng, bằng khen trong quá trình làm công tác Phật sự và Hoằng Pháp:
- được nhiều bằng tuyên dương công đức của GHPG Việt Nam
- 2 Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ: trong đó
1 kỷ niệm chương của UB Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
1 cúp vàng Vì Sự Phát Triển của Cộng Đồng.(Năm 2010)
- 01 Bằng khen của Hội Đồng Nhân Dân TP Hà Nội
- 04 Bằng khen của Chủ tịch UB Nhân Dân TP Hà Nội và Bằng khen của UB MT Tổ Quốc TP Hà Nội.
- 01 huy chương Vì Hòa Bình Hữu Nghị giữa các Dân Tộc của Đoàn Chủ Tịch Liên Hiệp các tổ chức Hữu Nghị Việt Nam tặng.
Trong quá trình công tác, chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ với trách nhiệm của một tu sĩ Phật Giáo, hoạt động theo phương châm của Giáo Hội “Đạo pháp dân tộc, Chủ nghĩa xã hội”.
Theo Đại Đức Giảng sư – Trưởng Ban hoằng pháp TW;
HT. Thích Gia Quang – Phó tổng thư ký HĐTS GHPGVN
cùng Tăng Ni BTS Tỉnh hội Phật giáo Hưng Yên và đông đảo tín đồ Phật tử.
Tới dự có Trung tướng Tô Lâm – Thứ trưởng Bộ công an
cùng các vị lãnh đạo đại diện các cơ quan ban ngành Trung ương và địa phương cùng về tham dự.
Sau nghi lễ niệm hồng danh đức Bản sư, ĐĐ. Thích Thanh Quang tuyên bố lý do giới thiệu thành phần tham dự.
Tại buổi lễ ông Lê Minh Đức – thay mặt UBND xã Nghĩa Trụ đọc diễn văn khai mạc:
Được biết chùa Xuân Cầu có lịch sử từ lâu đời, năm 1954 đã bị chiến tranh phá hủy, nhân dân không còn nơi thờ cúng, từ năm 2010 chùa xây dựng lại ngôi Tam bảo, nhà Tổ, nhà mẫu khang trang, tôn nghiêm.
Tổng kinh phí xây dựng chùa hơn 8 tỷ đồng. Chùa được hoàn thiện trong 3 năm, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng dân dân tại địa phương.
Làng Xuân Cầu là quê hương của các nhà cách mạng, Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương, Lê Giản (Tô Dĩ)… quê hương của nhà văn Nguyễn Công Hoan, họa sỹ nổi tiếng Tô Ngọc Vân…. Phát huy truyền thống yêu nước, nhân dân làng Xuân Cầu luôn đoàn kết hòa hợp, chấp hành tốt luật pháp, thực hiện nếp sống văn hóa mới.
Tại buổi lễ, Sư cô Thích Đàm Lương – Trụ trì chùa Xuân Cầu phát biểu bày tỏ sự tri ân đối với các cơ quan đoàn thể, các cấp lãnh đạo, nhà hảo tâm và các quý vị Phật tử đã phát tâm công đức xây dựng chùa cảnh được khang trang để trở thành trung tâm văn hóa tín ngưỡng cho nhân dân địa phương. Cũng trong dịp này Sư cô đã vinh dự đón nhận những lẵng hoa và phẩm vật của chư tôn đức Giáo phẩm cùng các vị lãnh đạo đại diện các cơ quan ban ngành trao tặng.
Cuối buổi lễ HT. Thích Thiện Nhơn
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn
HT.TS Thích Thiện Nhơn hiện là Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Trong các nhiệm kỳ trước, Hòa thượng từng đảm nhiệm các chức vụ:
Phó ban Trị sự - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo TP.HCM,
Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học,
Phó ban Hoằng pháp TƯ và nhiều chức vụ quan trọng khác.
Hòa thượng là tác giả của vài chục tác phẩm Phật học có giá trị, vừa là nhà giáo dục - hoằng pháp vừa là nhà hành chính Phật giáo.
Theo Đạo Phật Ngày Nay ban đạo từ, chúc mừng ngày khánh thành chùa Xuân Cầu, Hòa thượng đã động viên phật tử và nhân dân địa phương thực hiện tốt phương châm Đạo pháp – Dân tộc góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Làng Xuân Cầu là quê hương của các nhà cách mạng, Tô Hiệu, Tô Chấn, Lê Văn Lương, Lê Giản (Tô Dĩ)… quê hương của nhà văn Nguyễn Công Hoan, họa sỹ nổi tiếng Tô Ngọc Vân…. Phát huy truyền thống yêu nước, nhân dân làng Xuân Cầu luôn đoàn kết hòa hợp, chấp hành tốt luật pháp, thực hiện nếp sống văn hóa mới.
Tại buổi lễ, Sư cô Thích Đàm Lương – Trụ trì chùa Xuân Cầu phát biểu bày tỏ sự tri ân đối với các cơ quan đoàn thể, các cấp lãnh đạo, nhà hảo tâm và các quý vị Phật tử đã phát tâm công đức xây dựng chùa cảnh được khang trang để trở thành trung tâm văn hóa tín ngưỡng cho nhân dân địa phương. Cũng trong dịp này Sư cô đã vinh dự đón nhận những lẵng hoa và phẩm vật của chư tôn đức Giáo phẩm cùng các vị lãnh đạo đại diện các cơ quan ban ngành trao tặng.
Cuối buổi lễ HT. Thích Thiện Nhơn
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn HT.TS Thích Thiện Nhơn hiện là Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Trong các nhiệm kỳ trước, Hòa thượng từng đảm nhiệm các chức vụ:
Phó ban Trị sự - Chánh Thư ký Thành hội Phật giáo TP.HCM,
Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học,
Phó ban Hoằng pháp TƯ và nhiều chức vụ quan trọng khác.
Hòa thượng là tác giả của vài chục tác phẩm Phật học có giá trị, vừa là nhà giáo dục - hoằng pháp vừa là nhà hành chính Phật giáo.
Theo Đạo Phật Ngày Nay ban đạo từ, chúc mừng ngày khánh thành chùa Xuân Cầu, Hòa thượng đã động viên phật tử và nhân dân địa phương thực hiện tốt phương châm Đạo pháp – Dân tộc góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
❧ ❀ ❧
Lệ làng - HOA CẦU XÃ HƯƠNG LỆ - 花球社 鄉例
Tục ngữ: "Phép Vua Thua Lệ Làng"
Thông thường, lí do lập hương ước bao giờ cũng có đoạn “Nước có luật, làng có lệ”, cụ thể trong hương ước xã Xuân Cầu (Hưng Yên) có quy định:
“Một làng cũng như một nước, cần phải có thể lệ chung để mọi người tuân theo thời mới có trật tự, mới yên ổn, dân làng mới trở nên thịnh vượng được. Làng ta đây tuy trước vẫn có khoán lệ, nhưng so với cái trình độ tiến hóa của dân ngày nay thì có nhiều điều khuyết điểm, bởi vậy nay dân làng cùng hội họp tại đình cùng bàn bạc mà sửa đổi lại, châm chước các lệ bất tiện thủa trước mà lập ra tập khoán lệ này”[4].
Sách tục lệ trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1388.
Soạn năm Lê Cảnh Hưng 36 (1775).
1 bản viết, 60 trang, 30x20.
A. 724.
1388.
HOA CẦU XÃ HƯƠNG LỆ
花球社 鄉例
Soạn năm Lê Cảnh Hưng 36 (1775).
1 bản viết, 60 trang, 30x20.
A. 724.
- Quy ước về từ chỉ tiên hiền và hội tư văn của. Hoa Cầu, h. Văn Giang. 8 bài văn tế thần, tế tiên hiền.
- Quy ước của th. Tam Kì, x. Hoa Cầu về các việc quan, hôn nhân, tang lễ, tế tự, khao vọng, ăn uống...
Xem:
Sưu tầm và giới thiệu: Nguyễn Hoàng Uyên
Sưu tầm và giới thiệu: Nguyễn Hoàng Uyên
Hà Nội, tháng 4 năm 2012.
Cảm nhận một chuyến đi
_ Trần Thị Bích Hằng❖Ths, Phó Hiệu trưởng Trường. _
Vào những ngày đầu xuân Nhâm Thìn, trong không khí vui xuân của những đoàn xe đi trẩy hội, đi du xuân, xe của đoàn cán bộ Trường Chính trị Tô Hiệu cũng khởi hành trong sự rộn rã. Nhưng xe của chúng tôi không đi lễ chùa, trẩy hội mà về xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên để dự Lễ Kỷ niệm 100 năm năm sinh (1912 - 2012) người chiến sĩ cách mạng kiên trung, một tấm gương cộng sản kiên cường, một người luôn chăm lo đến công tác đào tạo cán bộ, đã cống hiến trọn tuổi thanh xuân của mình cho cách mạng trong những thập niên đầu của thế kỷ XX - Liệt sĩ Tô Hiệu.
Vượt qua gần 100 km đường 5, xe vòng vào con đường nhỏ, đưa chúng tôi về với quê hương đồng chí. Ngay ở đầu thôn chúng tôi đã thấy nhân dân, trong trang phục chỉnh tề vẫy tay chào đón xe chúng tôi. Những lời hỏi thăm thân tình, ấm áp của bà con, những cái bắt tay rất chặt của các đồng chí công an làm nhiệm vụ dẫn đường, của cán bộ lãnh đạo địa phương, và đặc biệt là những cử chỉ nồng hậu, chân tình của thân nhân liệt sĩ Tô Hiệu, đã coi chúng tôi như những người thân, những người con của quê hương trở về, thắp nén tâm nhang cho người anh liệt sĩ của mình. Đoàn chúng tôi ai cũng nghẹn ngào, xúc động ! Có những giọt nước mắt đã rơi!
Trong khói hương trầm nghi ngút, linh thiêng, sau phần lễ dâng hương, chúng tôi được nghe đồng chí Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy Hưng Yên, đồng chí Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương giới thiệu tóm tắt thân thế, sự nghiệp và những cống hiến lớn lao của đồng chí Tô Hiệu đối với sự nghiệp cách mạng trong những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, một giai đoạn cách mạng đầy chông gai thử thách, thử thách lòng kiên trung của mỗi con người trước vận mệnh của đất nước.
Điều đặc biệt và cũng là điều làm cho chúng tôi vô cùng xúc động là được nghe bác Nguyến Văn Trân, nguyên Bí thư Trung ương đảng, nguyên bí thư chi bộ nhà tù Sơn la, người đồng chí, người bạn tù của đồng chí Tô Hiệu kể chuyện về cuộc sống của những người tù chính trị tại nhà tù Sơn La. Bác Trân nay đã 97 tuổi, ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn, giọng nói ấm, trầm, đầy truyền cảm. Sau ít phút nghẹn ngào ban đầu, càng nói, càng kể lại những câu chuyện về đồng chí Tô Hiệu giọng bác càng hào sảng, khúc triết, rõ ràng. Dường như ý chí của người chiến sĩ cách mạng năm xưa đang truyền thêm sức mạnh cho bác. Tuần tự từng việc làm một, từng ký ức lại dội về, bác đã đưa mọi người trở về quá khứ, trở về cuộc sống nhà tù, mà ở đó có một người, tuổi đời còn rất trẻ, bị tra tấn dã man, đói rét, bệnh tật hành hạ không hề nản chí, sờn lòng, đã trở thành tấm gương hoạt động tiêu biểu của những chiến sĩ cộng sản kiên trung, sống chết vì lý tưởng cách mạng - liệt sĩ Tô Hiệu.
Nói về đồng chí Tô Hiệu, một người cộng sản kiên trung, người mà cả cuộc đời đã dâng hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc thì không bao giờ hết. Tấm gương chiến đấu cho lý tưởng cách mạng của đồng chí Tô Hiệu đã được nhiều sách báo đề cập đến. Song tại buổi lễ trang trọng và ấm tình đồng chí này, qu lời kể của Bác Nguyễn Văn Trân kể về đồng chí Tô Hiệu, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về một đồng chí Tô Hiệu với những đóng góp cho phong trào cách mạng, cho công tác xây dựng Đảng và những hoạt động lãnh đạo của đồng chí trong thời gian bị giam cầm ở nhà tù Sơn La. Những lời kể đầy xúc động của bác Trân như tạc nên chân dung một con người, một con người không chỉ kiên trung với lý tưởng, toàn tâm toàn ý phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng mà Tô Hiệu còn là nhà lãnh đạo cách mạng đầy sáng tạo, người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong thời kỳ đầu của cách mạng.
Sau khủng bố của thực dân Pháp những năm 1930 – 1931, các cơ sở đảng nhiều nơi không còn giữ được, phong trào quần chúng bị đổ vỡ hết. Rồi đến thời kỳ 1936- 1939, khi ở Côn Đảo về, mặc dù sức khỏe còn rất yếu, song Tô Hiệu cùng với một số đồng chí khác bắt tay ngay vào xây dựng lại Xứ ủy Bắc Kỳ. Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Linh, Tô Noong (người Cao Bằng), Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt đã cùng nhau tập hợp lại để củng cố, xây dựng lại Xứ Ủy Bắc Kỳ và từ Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức lại tỉnh ủy các nơi. Trong hoạt động này, đồng chí Tô Hiệu là nòng cốt, là người năng động, có nhiều đóng góp lớn. Từ những bài học về công tác xây dựng Đảng mà đồng chí được dạy trong nhà tù Côn Đảo, Tô Hiệu đã nhận thức sâu sắc về vai trò của cán bộ. Vì thế trong khi sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức quần chúng, cũng là lúc Tô Hiệu tiến hành đào tạo cán bộ (Bác Trân kể, tôi cũng là 1 trong những cán bộ được đồng chí Tô Hiệu đào tạo trong phong trào Mặt trận Bình dân).
Theo đồng chí Tô Hiệu, muốn xây dựng Đảng thì trước hết phải có cán bộ. Cán bộ tốt không phải tự nhiên mà có, mà phải được đào tạo, bồi dưỡng. Cho nên đồng chí Tô Hiệu đã tìm mọi cách để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng (gồm những người hăng hái, những thanh niên, những công nhân, nông dân, trí thức … nếu họ có cùng chí hướng) đều được theo học. Nếu không đào tạo (hiểu theo nghĩa giác ngộ con đường đấu tranh cách mạng) thì các hoạt động của họ chỉ mang tính tự phát, và vì vậy, phong trào khó mà có thể phát triển được.
Để phong trào cách mạng mạnh, cần phải có sự tham gia của đông đảo người dân, vì thế, đối tượng đi học, theo Tô Hiệu không phân biệt họ là ai, thuộc thành phần nào, dân tộc nào mà bao gồm tất cả những người có cùng chí hướng. Với nhận thức như vậy, nên sau khi bị quân Pháp bắt lại, và giam ở nhà tù Sơn La, Tô Hiệu cùng với một số đồng chí khác đã biến nhà tù thành trường học cộng sản, thành nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Vào nhà tù Sơn La, việc đầu tiên, theo đồng chí Tô Hiệu là phải có chủ trương đối phó với bọn cai ngục (đặc biệt là đối đầu với tên công xứ mật thám người Pháp Dăng cut-xô khét tiếng, được thực dân Pháp đưa lên để khủng bố người dân ở đây). Để đối phó với bọn tay sai phản động, bọn cai ngục, Tô Hiệu đã có nhiều chủ trương sáng tạo, tùy tình hình để có lúc cương quyết lúc lại mềm mỏng, đạt hiệu quả cho mỗi cuộc đấu tranh.
Vào nhà tù trong số gần 300 tù nhân, với nhiều thành phần khác nhau: Cộng sản có; Quốc dân đảng có; một số anh em Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội; một số anh em hoạt động từ trước, chưa mãn hạn tù, vẫn trong thời gian ở trại tập trung; một số thành phần thân Nhật và đặc biệt có cả Phạm Công Tắc - Giáo chủ Cao Đài.
Vượt qua gần 100 km đường 5, xe vòng vào con đường nhỏ, đưa chúng tôi về với quê hương đồng chí. Ngay ở đầu thôn chúng tôi đã thấy nhân dân, trong trang phục chỉnh tề vẫy tay chào đón xe chúng tôi. Những lời hỏi thăm thân tình, ấm áp của bà con, những cái bắt tay rất chặt của các đồng chí công an làm nhiệm vụ dẫn đường, của cán bộ lãnh đạo địa phương, và đặc biệt là những cử chỉ nồng hậu, chân tình của thân nhân liệt sĩ Tô Hiệu, đã coi chúng tôi như những người thân, những người con của quê hương trở về, thắp nén tâm nhang cho người anh liệt sĩ của mình. Đoàn chúng tôi ai cũng nghẹn ngào, xúc động ! Có những giọt nước mắt đã rơi!
Trong khói hương trầm nghi ngút, linh thiêng, sau phần lễ dâng hương, chúng tôi được nghe đồng chí Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy Hưng Yên, đồng chí Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương giới thiệu tóm tắt thân thế, sự nghiệp và những cống hiến lớn lao của đồng chí Tô Hiệu đối với sự nghiệp cách mạng trong những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, một giai đoạn cách mạng đầy chông gai thử thách, thử thách lòng kiên trung của mỗi con người trước vận mệnh của đất nước.
Điều đặc biệt và cũng là điều làm cho chúng tôi vô cùng xúc động là được nghe bác Nguyến Văn Trân, nguyên Bí thư Trung ương đảng, nguyên bí thư chi bộ nhà tù Sơn la, người đồng chí, người bạn tù của đồng chí Tô Hiệu kể chuyện về cuộc sống của những người tù chính trị tại nhà tù Sơn La. Bác Trân nay đã 97 tuổi, ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn, giọng nói ấm, trầm, đầy truyền cảm. Sau ít phút nghẹn ngào ban đầu, càng nói, càng kể lại những câu chuyện về đồng chí Tô Hiệu giọng bác càng hào sảng, khúc triết, rõ ràng. Dường như ý chí của người chiến sĩ cách mạng năm xưa đang truyền thêm sức mạnh cho bác. Tuần tự từng việc làm một, từng ký ức lại dội về, bác đã đưa mọi người trở về quá khứ, trở về cuộc sống nhà tù, mà ở đó có một người, tuổi đời còn rất trẻ, bị tra tấn dã man, đói rét, bệnh tật hành hạ không hề nản chí, sờn lòng, đã trở thành tấm gương hoạt động tiêu biểu của những chiến sĩ cộng sản kiên trung, sống chết vì lý tưởng cách mạng - liệt sĩ Tô Hiệu.
Nói về đồng chí Tô Hiệu, một người cộng sản kiên trung, người mà cả cuộc đời đã dâng hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc thì không bao giờ hết. Tấm gương chiến đấu cho lý tưởng cách mạng của đồng chí Tô Hiệu đã được nhiều sách báo đề cập đến. Song tại buổi lễ trang trọng và ấm tình đồng chí này, qu lời kể của Bác Nguyễn Văn Trân kể về đồng chí Tô Hiệu, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về một đồng chí Tô Hiệu với những đóng góp cho phong trào cách mạng, cho công tác xây dựng Đảng và những hoạt động lãnh đạo của đồng chí trong thời gian bị giam cầm ở nhà tù Sơn La. Những lời kể đầy xúc động của bác Trân như tạc nên chân dung một con người, một con người không chỉ kiên trung với lý tưởng, toàn tâm toàn ý phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng mà Tô Hiệu còn là nhà lãnh đạo cách mạng đầy sáng tạo, người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong thời kỳ đầu của cách mạng.
Sau khủng bố của thực dân Pháp những năm 1930 – 1931, các cơ sở đảng nhiều nơi không còn giữ được, phong trào quần chúng bị đổ vỡ hết. Rồi đến thời kỳ 1936- 1939, khi ở Côn Đảo về, mặc dù sức khỏe còn rất yếu, song Tô Hiệu cùng với một số đồng chí khác bắt tay ngay vào xây dựng lại Xứ ủy Bắc Kỳ. Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Linh, Tô Noong (người Cao Bằng), Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt đã cùng nhau tập hợp lại để củng cố, xây dựng lại Xứ Ủy Bắc Kỳ và từ Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức lại tỉnh ủy các nơi. Trong hoạt động này, đồng chí Tô Hiệu là nòng cốt, là người năng động, có nhiều đóng góp lớn. Từ những bài học về công tác xây dựng Đảng mà đồng chí được dạy trong nhà tù Côn Đảo, Tô Hiệu đã nhận thức sâu sắc về vai trò của cán bộ. Vì thế trong khi sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức quần chúng, cũng là lúc Tô Hiệu tiến hành đào tạo cán bộ (Bác Trân kể, tôi cũng là 1 trong những cán bộ được đồng chí Tô Hiệu đào tạo trong phong trào Mặt trận Bình dân).
Theo đồng chí Tô Hiệu, muốn xây dựng Đảng thì trước hết phải có cán bộ. Cán bộ tốt không phải tự nhiên mà có, mà phải được đào tạo, bồi dưỡng. Cho nên đồng chí Tô Hiệu đã tìm mọi cách để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng (gồm những người hăng hái, những thanh niên, những công nhân, nông dân, trí thức … nếu họ có cùng chí hướng) đều được theo học. Nếu không đào tạo (hiểu theo nghĩa giác ngộ con đường đấu tranh cách mạng) thì các hoạt động của họ chỉ mang tính tự phát, và vì vậy, phong trào khó mà có thể phát triển được.
Để phong trào cách mạng mạnh, cần phải có sự tham gia của đông đảo người dân, vì thế, đối tượng đi học, theo Tô Hiệu không phân biệt họ là ai, thuộc thành phần nào, dân tộc nào mà bao gồm tất cả những người có cùng chí hướng. Với nhận thức như vậy, nên sau khi bị quân Pháp bắt lại, và giam ở nhà tù Sơn La, Tô Hiệu cùng với một số đồng chí khác đã biến nhà tù thành trường học cộng sản, thành nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Vào nhà tù Sơn La, việc đầu tiên, theo đồng chí Tô Hiệu là phải có chủ trương đối phó với bọn cai ngục (đặc biệt là đối đầu với tên công xứ mật thám người Pháp Dăng cut-xô khét tiếng, được thực dân Pháp đưa lên để khủng bố người dân ở đây). Để đối phó với bọn tay sai phản động, bọn cai ngục, Tô Hiệu đã có nhiều chủ trương sáng tạo, tùy tình hình để có lúc cương quyết lúc lại mềm mỏng, đạt hiệu quả cho mỗi cuộc đấu tranh.
Vào nhà tù trong số gần 300 tù nhân, với nhiều thành phần khác nhau: Cộng sản có; Quốc dân đảng có; một số anh em Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội; một số anh em hoạt động từ trước, chưa mãn hạn tù, vẫn trong thời gian ở trại tập trung; một số thành phần thân Nhật và đặc biệt có cả Phạm Công Tắc - Giáo chủ Cao Đài.
Vì vậy quan hệ giữa những người tù phức tạp lắm, làm sao để đoàn kết họ lại, để cùng tranh đấu chống đế quốc? Trong khi đó, cũng tại nhà tù Sơn La, bài học những năm 30- 35 của những người tù cho thấy, trong tù vừa có Cộng sản, vừa có Quốc dân đảng, nhưng vì luôn mâu thuẫn, đấu tranh không thống nhất được với nhau, cho nên tình hình đời sống của anh em trong tù hết sức khó khăn, và việc chống lại chế độ cầm quyền không thành công. Kết quả là trong số hơn 150 tù chính trị thì có tới 50 người bị chết do không đoàn kết, nên không bảo vệ được nhau. Nhưng sau này, từ năm 40- 45, trong số hơn 250 tù nhân chỉ chết có 7 người, vì dưới sự lãnh đạo của chi bộ nhà tù, trong đó đồng chí Tô Hiệu là linh hồn, đã có nhiều chủ trương đoàn kết họ lại để cùng:
Một là đấu tranh đòi lại quyền lợi cho tù nhân: đòi bỏ chế độ nhà thầu cung cấp thức ăn để buộc họ phải giao lại nhà bếp cho chính những người tù tự làm, đảm bảo chế độ ăn, vì thực tế cho thấy chế độ nhà thầu thức ăn đã tạo điều kiện để cai tù bớt xén khẩu phần, cho tù nhân ăn không đủ chất dinh dưỡng tối thiểu, điều đó ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của anh em.
Hai là đấu tranh đòi hưởng chế độ thông tin, đòi được đặt mua, cung cấp sách, báo ... để cải thiện đời sống tinh thần
Ba là đấu tranh đòi được cải thiện đời sống bằng chính công lao động của người tù: đòi được tự tăng gia trồng rau, nuôi lợn…và chính nhờ hoạt động lao động ngoài trời mà những người tù được giao lưu với nhau, và thông qua đó nâng cao được sức khỏe, giảm được bệnh tật, có điều kiện để thông tin với nhau về các chủ trương của chi bộ, thông tin về tình hình bên ngoài do một số anh em được cung cấp.
Một điều đặc biệt (theo bác Trân kể) là Tô Hiệu nói, chúng ta ở tù nhưng phải nghĩ đến sau này khi mãn hạn tù được trở về phải tiếp tục hoạt động, vì vậy, ngay từ bây giờ, trong điều kiện nhà tù, phải tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Với suy nghĩ đó, đồng chí Tô Hiệu đã tổ chức các lớp học chính trị, học văn hóa (người biết chữ dạy người không biết chữ, người biết nhiều dạy người biết ít; không chỉ dạy tiếng Việt mà còn dạy tiếng Pháp, tiếng Trung..), khác với nhà tù khác, ở đây còn dạy, còn huấn luyện quân sự. Một điều nghe như xa vời nhưng đó lại là hiện thực, điều không thể lại trở thành có thể. Bác Trân kể lại, trong những lần đi lao động khổ sai, 4 tù nhân có 1 lính dõng đi coi tù, anh em đã thuyết phục người lính dõng cho mượn súng để tập luyện quân sự, cứ thế, các đợt lao động khổ sai trở thành lớp huấn luyện quân sự. Phải chăng tấm gương kiên trung của những người tù cộng sản đã cảm hóa được người lính dõng, phải chăng trong dòng máu của những con người có thể do hoàn cảnh đã buộc họ phải đứng bên kia chiến tuyến vẫn còn le lói dòng máu Lạc Hồng, nên khi được tiếp xúc với những người tù cộng sản, cảm phục trước sự chịu đựng vô song, một nghị lực sống phi thường, họ đã không ngần ngại trao súng, bất chấp sự trừng phạt đang chờ đợi họ, nếu việc làm trên bị phát hiện. Cứ như vậy, tối đến, đêm về, các trại tù đã trở thành nơi học tập, trại này học văn hóa, trại kia học chính trị, trại kia ôn tập lại những điều mới tiếp thu được từ khâu tháo lắp súng, các yếu lĩnh bắn súng…vv. Trong các lớp học thì lớp học chính trị thu hút đông đảo người tham gia nhất. Một số anh em tù nhân có điều kiện nhận được các tài liệu bí mật từ bên ngoài gửi vào, đã biên tập thành tài liệu tuyên truyền của Việt Minh, số ít anh em đã viết được tài liệu gửi ra bên ngoài để tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Các lớp Nông vận, Công vận, Binh vận , Thanh vận và công tác hoạt động bí mật... cũng được triển khai. Dẫu sao, trong chốn tù đầy, những người Cộng sản, mà đặc biệt là Tô Hiệu, đã tranh thủ mọi thời cơ, mọi điều kiện, để biến nhà tù thành trường học, học ngay những điều mà kẻ thù không thể ngờ được. Chính từ những nội dung đào tạo, bồi dưỡng đó mà các anh em sau này khi được thả tự do, với những kiến thức tiếp thu được trong tù đã vươn lên, chủ động sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, và trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, giữ những cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Chính những chủ trương, những hoạt động lao động, học tập trong nhà tù, những phong trào đấu tranh đòi quyền lợi, những người tù đã quên đi sự khác biệt về thành phần, trình độ văn hóa, nhận thức... trở thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, mà Tô Hiệu là linh hồn, cùng chung một chí hướng chống lại đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ, mọi người hình như không ai chú ý đến thời gian, vẫn chăm chú nghe từng lời bác Trân kể để được ôn, được nhớ lại cuộc đời hoạt động của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Mặc dù trời vẫn còn lạnh nhưng chúng tôi ai cũng thấy ấm lòng, bởi những cảm xúc của bác khi kể về người bạn tù, người anh, người đồng chí đã truyền thêm sức mạnh cộng sản, truyền nghị lực sống cho mỗi chúng tôi. Quên đi tuổi tác, quên đi thời gian, bác như thầm nhủ, chúng ta, những người Cộng sản ngày nay hãy sống cho Tô Hiệu, học và làm theo tấm gương người chiến sĩ cộng sản kiên cường.
Chia tay với buổi Lễ kỷ niệm trở về, đoàn cán bộ Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng không chỉ mang trong lòng những tình cảm thân thương của bà con và lãnh đạo xã Nghĩa Trụ, sự chân tình nồng hậu của dòng tộc họ Tô, mà quan trọng hơn cả là mọi người ai cũng mang trong lòng những trăn trở của bản thân: Trong hoàn cảnh tù đầy, ốm đau bệnh tật, bị sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù, thiếu thốn trăm bề…mà những người cộng sản đã luôn vượt lên, sáng tạo, khôn khéo trong cách làm, luôn chăm lo đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho cách mạng…hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong hoàn cảnh khó khăn nhất.
Thiết nghĩ, với nhà trường mà nhiệm vụ, trọng trách chính được giao là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho thành phố và hơn nữa là Trường lại được vinh dự mang tên đồng chí Tô Hiệu, vậy học tập Tô Hiệu không chỉ ở tấm gương chiến đấu kiên trung của người Cộng sản mà là học tập sự sáng tạo, học tập tinh thần vượt khó vươn lên. Mỗi cán bộ, giảng viên cần sáng tạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đồng thời cũng luôn tự trau dồi, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức mới, đặng góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố tin tưởng giao cho trường./.
❖ Ths, Phó Hiệu trưởng Trường
Một là đấu tranh đòi lại quyền lợi cho tù nhân: đòi bỏ chế độ nhà thầu cung cấp thức ăn để buộc họ phải giao lại nhà bếp cho chính những người tù tự làm, đảm bảo chế độ ăn, vì thực tế cho thấy chế độ nhà thầu thức ăn đã tạo điều kiện để cai tù bớt xén khẩu phần, cho tù nhân ăn không đủ chất dinh dưỡng tối thiểu, điều đó ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của anh em.
Hai là đấu tranh đòi hưởng chế độ thông tin, đòi được đặt mua, cung cấp sách, báo ... để cải thiện đời sống tinh thần
Ba là đấu tranh đòi được cải thiện đời sống bằng chính công lao động của người tù: đòi được tự tăng gia trồng rau, nuôi lợn…và chính nhờ hoạt động lao động ngoài trời mà những người tù được giao lưu với nhau, và thông qua đó nâng cao được sức khỏe, giảm được bệnh tật, có điều kiện để thông tin với nhau về các chủ trương của chi bộ, thông tin về tình hình bên ngoài do một số anh em được cung cấp.
Một điều đặc biệt (theo bác Trân kể) là Tô Hiệu nói, chúng ta ở tù nhưng phải nghĩ đến sau này khi mãn hạn tù được trở về phải tiếp tục hoạt động, vì vậy, ngay từ bây giờ, trong điều kiện nhà tù, phải tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Với suy nghĩ đó, đồng chí Tô Hiệu đã tổ chức các lớp học chính trị, học văn hóa (người biết chữ dạy người không biết chữ, người biết nhiều dạy người biết ít; không chỉ dạy tiếng Việt mà còn dạy tiếng Pháp, tiếng Trung..), khác với nhà tù khác, ở đây còn dạy, còn huấn luyện quân sự. Một điều nghe như xa vời nhưng đó lại là hiện thực, điều không thể lại trở thành có thể. Bác Trân kể lại, trong những lần đi lao động khổ sai, 4 tù nhân có 1 lính dõng đi coi tù, anh em đã thuyết phục người lính dõng cho mượn súng để tập luyện quân sự, cứ thế, các đợt lao động khổ sai trở thành lớp huấn luyện quân sự. Phải chăng tấm gương kiên trung của những người tù cộng sản đã cảm hóa được người lính dõng, phải chăng trong dòng máu của những con người có thể do hoàn cảnh đã buộc họ phải đứng bên kia chiến tuyến vẫn còn le lói dòng máu Lạc Hồng, nên khi được tiếp xúc với những người tù cộng sản, cảm phục trước sự chịu đựng vô song, một nghị lực sống phi thường, họ đã không ngần ngại trao súng, bất chấp sự trừng phạt đang chờ đợi họ, nếu việc làm trên bị phát hiện. Cứ như vậy, tối đến, đêm về, các trại tù đã trở thành nơi học tập, trại này học văn hóa, trại kia học chính trị, trại kia ôn tập lại những điều mới tiếp thu được từ khâu tháo lắp súng, các yếu lĩnh bắn súng…vv. Trong các lớp học thì lớp học chính trị thu hút đông đảo người tham gia nhất. Một số anh em tù nhân có điều kiện nhận được các tài liệu bí mật từ bên ngoài gửi vào, đã biên tập thành tài liệu tuyên truyền của Việt Minh, số ít anh em đã viết được tài liệu gửi ra bên ngoài để tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Các lớp Nông vận, Công vận, Binh vận , Thanh vận và công tác hoạt động bí mật... cũng được triển khai. Dẫu sao, trong chốn tù đầy, những người Cộng sản, mà đặc biệt là Tô Hiệu, đã tranh thủ mọi thời cơ, mọi điều kiện, để biến nhà tù thành trường học, học ngay những điều mà kẻ thù không thể ngờ được. Chính từ những nội dung đào tạo, bồi dưỡng đó mà các anh em sau này khi được thả tự do, với những kiến thức tiếp thu được trong tù đã vươn lên, chủ động sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, và trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, giữ những cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Chính những chủ trương, những hoạt động lao động, học tập trong nhà tù, những phong trào đấu tranh đòi quyền lợi, những người tù đã quên đi sự khác biệt về thành phần, trình độ văn hóa, nhận thức... trở thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, mà Tô Hiệu là linh hồn, cùng chung một chí hướng chống lại đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước.
Sau hơn hai tiếng đồng hồ, mọi người hình như không ai chú ý đến thời gian, vẫn chăm chú nghe từng lời bác Trân kể để được ôn, được nhớ lại cuộc đời hoạt động của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Mặc dù trời vẫn còn lạnh nhưng chúng tôi ai cũng thấy ấm lòng, bởi những cảm xúc của bác khi kể về người bạn tù, người anh, người đồng chí đã truyền thêm sức mạnh cộng sản, truyền nghị lực sống cho mỗi chúng tôi. Quên đi tuổi tác, quên đi thời gian, bác như thầm nhủ, chúng ta, những người Cộng sản ngày nay hãy sống cho Tô Hiệu, học và làm theo tấm gương người chiến sĩ cộng sản kiên cường.
Chia tay với buổi Lễ kỷ niệm trở về, đoàn cán bộ Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng không chỉ mang trong lòng những tình cảm thân thương của bà con và lãnh đạo xã Nghĩa Trụ, sự chân tình nồng hậu của dòng tộc họ Tô, mà quan trọng hơn cả là mọi người ai cũng mang trong lòng những trăn trở của bản thân: Trong hoàn cảnh tù đầy, ốm đau bệnh tật, bị sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù, thiếu thốn trăm bề…mà những người cộng sản đã luôn vượt lên, sáng tạo, khôn khéo trong cách làm, luôn chăm lo đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho cách mạng…hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong hoàn cảnh khó khăn nhất.
Thiết nghĩ, với nhà trường mà nhiệm vụ, trọng trách chính được giao là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho thành phố và hơn nữa là Trường lại được vinh dự mang tên đồng chí Tô Hiệu, vậy học tập Tô Hiệu không chỉ ở tấm gương chiến đấu kiên trung của người Cộng sản mà là học tập sự sáng tạo, học tập tinh thần vượt khó vươn lên. Mỗi cán bộ, giảng viên cần sáng tạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đồng thời cũng luôn tự trau dồi, bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức mới, đặng góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố tin tưởng giao cho trường./.
Nội san Số 1/2012
❖ Ths, Phó Hiệu trưởng Trường
Lê Văn Lương - người cộng sản mẫu mực, trọn đời vì sự nghiệp cách mạng của Đảng
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà cách mạng Lê Văn Lương (28/3/1912 - 28/3/2012)
_ Đoàn Phạm Hà Trang _
TCCSĐT - Là thế hệ lớp đầu của Đảng ta, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Văn Lương nêu cao tấm gương trong sáng của một người cộng sản kiên trung, tận tụy, liêm chính, khiêm nhường…; một mẫu mực về tự phê bình, về nếp sống đặc biệt trong sáng, giản dị và khoan dung. Đồng chí đã trọn một đời với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Những năm tháng trên con đường cách mạng
Làng Xuân Cầu, xứ Đông từng đi vào ca dao: "Ai về Đồng Tỉnh, Hoa Cầu / Để thương, để nhớ, để sầu cho ai...", là quê hương đồng chí Lê Văn Lương, thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tên thật là Nguyễn Công Miều, tên quen thuộc ở nhà tù Côn Đảo là Phạm Văn Khương, đồng chí Lê Văn Lương sinh ngày 28 tháng 3 năm 1912, trong một gia đình nho học, nhiều đời thi thư, khoa bảng yêu nước. Khi còn là cậu học trò trường Bưởi, Hà Nội, Lê Văn Lương đã cùng các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ tham gia các phong trào bãi khóa, để tang Phan Châu Trinh (năm 1926). Năm 15 tuổi, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (năm 1927). Tháng 6 năm 1929, đồng chí tham gia nhóm Đông Dương Cộng sản Đảng - một trong ba tổ chức cộng sản ở nước ta lúc đó, và đến khi thống nhất tổ chức thành một đảng duy nhất, đồng chí trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 8 năm 1929, đồng chí được cử vào Sài Gòn hoạt động để gây dựng cơ sở cách mạng. Tháng 3-1931, khi đang tích cực hoạt động trong phong trào công nhân thì bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Tháng 5-1933, đồng chí bị kết án tử hình trong vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với 7 người khác. Do sự vận động và đấu tranh của nhân dân ta, đặc biệt là của các nghị sĩ tiến bộ Pháp, đòi bỏ án tử hình và trả tự do cho tù chính trị ở Đông Dương, đồng chí được giảm xuống án chung thân khổ sai cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lê Quang Sung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Chí Diểu và bị đày ra Côn Đảo ít ngày sau khi kết thúc phiên tòa (14-5-1933). Trong tù, cùng với Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Lê Văn Lương được bổ sung vào cấp ủy của tổ chức Đảng nhà tù, tiếp tục lãnh đạo đấu tranh chống lại chế độ hà khắc ở nơi địa ngục trần gian này.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 23-9-1945, Lê Văn Lương cùng 2.000 tù được Chính phủ đón về Nam Bộ khi cách mạng đang bước vào giai đoạn mới. Ngay lập tức, đồng chí được phân công vào đội ngũ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tháng 10 năm 1945, đồng chí được cử làm Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ và được Trung ương điều ra Bắc, giúp Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo Báo Sự thật, Nhà xuất bản Sự thật và tham gia một số công việc khác vào tháng 01 năm 1946. Đầu năm 1947, đồng chí được cử làm Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng, cuối năm 1948 được chỉ định làm Trưởng Ban Đảng vụ.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951), đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, được phân công làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và chỉ đạo Văn phòng Trung ương. Từ giữa năm 1953, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban Cải cách ruộng đất Trung ương do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng ban, đồng chí Lê Văn Lương được phân công tham gia Ban lãnh đạo Cải cách ruộng đất.
Hòa bình lập lại, năm 1954, đồng chí được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 11 năm 1956, được chỉ định làm Bí thư Khu ủy Tả ngạn, tháng 8 năm 1957, được điều về làm Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Đầu năm 1959, đồng chí được cử giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960), đồng chí Lê Văn Lương được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư. Năm 1973, đồng chí được phân công kiêm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được phân công tham gia Thành ủy Hà Nội và được bầu làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, tiếp tục làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Cuối năm 1986, do tuổi cao sức yếu, đồng chí không tham gia Ban Chấp hành Trung ương, thôi giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội. Trong thời gian này, đồng chí vẫn được Bộ Chính trị phân công tham gia tổng kết công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ. Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa VI và VII.
Ngày 25 tháng 4 năm 1995, đồng chí Lê Văn Lương đã đi vào cõi vĩnh hằng để lại trong lòng đồng chí, đồng bào niềm tiếc thương vô hạn.
Là đảng viên cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên tham gia sáng lập Đảng, liên tục được Đảng cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương các khóa II, III, IV, V, với gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Lê Văn Lương thể hiện tấm gương của một chiến sĩ cộng sản mẫu mực, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đồng chí là một cán bộ có ý thức tổ chức kỷ luật rất cao, sống trung thực, giản dị, hòa nhã với mọi người, luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của đồng chí, của nhân dân.
Với những hoạt động và cống hiến đối với Đảng, cách mạng và dân tộc, đồng chí Lê Văn Lương đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Vượt lên gian khổ, hoạt động sôi nổi, cống hiến to lớn cho độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân
Với tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng, ngay từ những năm đang học ở trường Bưởi, cùng với người bạn học Nguyễn Văn Cừ, Lê Văn Lương được Ngô Gia Tự giác ngộ cách mạng. Từ khi tham gia Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên, càng thêm cơ hội để Lê Văn Lương đem nhiệt huyết của tuổi trẻ đấu tranh chống áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến; rèn luyện và trưởng thành. 17 tuổi, đồng chí đã là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng, hăm hở lao vào cuộc đấu tranh, xây dựng lực lượng, giác ngộ quần chúng, nhen nhóm phong trào cách mạng.
Thực hiện chủ trương "vô sản hóa" của Đảng, đồng chí Lê Văn Lương cùng với Ngô Gia Tự vào Sài Gòn hoạt động trong phong trào công nhân, trực tiếp lao động tại Hãng dầu Socony Nhà Bè. Ngày 23-3-1931, Lê Văn Lương trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh của hơn 400 công nhân Hãng dầu Socony. Sau khi bị mật thám bắt, Lê Văn Lương cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung đều bị kết án tử hình... Lúc ấy, đồng chí mới 18 tuổi. Với bản lĩnh và khí phách của người cộng sản chân chính, các đồng chí đã chuẩn bị sẵn tinh thần để hiên ngang lên máy chém…
Do những tác động tích cực của cách mạng thế giới, nhờ nỗ lực đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, các đồng chí đảng viên và nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi trong Ủy ban đấu tranh đòi ân xá chính trị phạm ở Đông Dương, thực dân Pháp buộc phải giảm án xuống chung thân khổ sai, đày Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung ra Côn Đảo. Suốt 15 năm lao tù, trong đó có 11 năm tại Côn Đảo, nơi địa ngục trần gian do thực dân đặt ra để đày đọa những người chống đối chúng, đồng chí Lê Văn Lương luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất cộng sản. Với tinh thần “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, Lê Văn Lương đã cùng với các đồng chí của mình thành lập Chi bộ cộng sản ngay trong cái “địa ngục trần gian” ấy. Chi bộ nhà tù đã xác định rõ nhiệm vụ của mình: Lãnh đạo tương tế; lãnh đạo đấu tranh; Lãnh đạo học tập và tự học tập, đào tạo cán bộ cho Đảng; Tổ chức vượt ngục; Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh, biên soạn và dịch thuật tài liệu gửi về cho tổ chức Đảng ở đất liền. Cũng tại đây, đồng chí được Chi bộ cử vào Ban lãnh đạo nhà tù Côn Đảo, tổ chức, lãnh đạo đảng viên trong tù đoàn kết đấu tranh chống lại chế độ lao động khổ sai, chế độ ăn uống đói khát hằng ngày. Là người say mê hoạt động, ngày phải đi làm khổ sai, tối đến, đồng chí Lê Văn Lương vẫn miệt mài viết bài chỉ đạo phong trào đăng trên báo “Tiến lên”- tờ báo bí mật của Hội tù nhân, hướng dẫn đấu tranh trong tù và tập san “Ý kiến chung” - tập san nghiên cứu lý luận trong tù. Khi đồng chí Trần Văn Giàu bị đày ra Côn đảo (tháng 7 năm 1935), đồng chí Lê Văn Lương cùng đồng chí Phạm Hùng giao cho Trần Văn Giàu mở lớp dạy lý luận trong tù. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương cũng là một học viên chăm chỉ của lớp. Tấm gương của đồng chí Lê Văn Lương có ảnh hưởng tích cực đến những người tù ở toàn đảo, đến phong trào cách mạng ở trong nước qua những đồng chí được trả lại tự do hay hết hạn tù. Những hoạt động tích cực của Chi bộ nhà tù và đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần đào tạo, rèn luyện được một thế hệ cán bộ của Đảng dày dạn kinh nghiệm, nhiều người có lý luận chỉ đạo phong trào cách mạng không chỉ trong tù mà còn trên phạm vi cả nước sau này.
Những năm tháng trên con đường cách mạng
Làng Xuân Cầu, xứ Đông từng đi vào ca dao: "Ai về Đồng Tỉnh, Hoa Cầu / Để thương, để nhớ, để sầu cho ai...", là quê hương đồng chí Lê Văn Lương, thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tên thật là Nguyễn Công Miều, tên quen thuộc ở nhà tù Côn Đảo là Phạm Văn Khương, đồng chí Lê Văn Lương sinh ngày 28 tháng 3 năm 1912, trong một gia đình nho học, nhiều đời thi thư, khoa bảng yêu nước. Khi còn là cậu học trò trường Bưởi, Hà Nội, Lê Văn Lương đã cùng các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ tham gia các phong trào bãi khóa, để tang Phan Châu Trinh (năm 1926). Năm 15 tuổi, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (năm 1927). Tháng 6 năm 1929, đồng chí tham gia nhóm Đông Dương Cộng sản Đảng - một trong ba tổ chức cộng sản ở nước ta lúc đó, và đến khi thống nhất tổ chức thành một đảng duy nhất, đồng chí trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 8 năm 1929, đồng chí được cử vào Sài Gòn hoạt động để gây dựng cơ sở cách mạng. Tháng 3-1931, khi đang tích cực hoạt động trong phong trào công nhân thì bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Tháng 5-1933, đồng chí bị kết án tử hình trong vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với 7 người khác. Do sự vận động và đấu tranh của nhân dân ta, đặc biệt là của các nghị sĩ tiến bộ Pháp, đòi bỏ án tử hình và trả tự do cho tù chính trị ở Đông Dương, đồng chí được giảm xuống án chung thân khổ sai cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lê Quang Sung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Chí Diểu và bị đày ra Côn Đảo ít ngày sau khi kết thúc phiên tòa (14-5-1933). Trong tù, cùng với Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Lê Văn Lương được bổ sung vào cấp ủy của tổ chức Đảng nhà tù, tiếp tục lãnh đạo đấu tranh chống lại chế độ hà khắc ở nơi địa ngục trần gian này.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 23-9-1945, Lê Văn Lương cùng 2.000 tù được Chính phủ đón về Nam Bộ khi cách mạng đang bước vào giai đoạn mới. Ngay lập tức, đồng chí được phân công vào đội ngũ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Tháng 10 năm 1945, đồng chí được cử làm Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ và được Trung ương điều ra Bắc, giúp Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo Báo Sự thật, Nhà xuất bản Sự thật và tham gia một số công việc khác vào tháng 01 năm 1946. Đầu năm 1947, đồng chí được cử làm Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng, cuối năm 1948 được chỉ định làm Trưởng Ban Đảng vụ.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951), đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, được phân công làm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và chỉ đạo Văn phòng Trung ương. Từ giữa năm 1953, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban Cải cách ruộng đất Trung ương do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng ban, đồng chí Lê Văn Lương được phân công tham gia Ban lãnh đạo Cải cách ruộng đất.
Hòa bình lập lại, năm 1954, đồng chí được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 11 năm 1956, được chỉ định làm Bí thư Khu ủy Tả ngạn, tháng 8 năm 1957, được điều về làm Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Đầu năm 1959, đồng chí được cử giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960), đồng chí Lê Văn Lương được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban Bí thư. Năm 1973, đồng chí được phân công kiêm Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được phân công tham gia Thành ủy Hà Nội và được bầu làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), đồng chí Lê Văn Lương được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, tiếp tục làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Cuối năm 1986, do tuổi cao sức yếu, đồng chí không tham gia Ban Chấp hành Trung ương, thôi giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội. Trong thời gian này, đồng chí vẫn được Bộ Chính trị phân công tham gia tổng kết công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ. Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa VI và VII.
Ngày 25 tháng 4 năm 1995, đồng chí Lê Văn Lương đã đi vào cõi vĩnh hằng để lại trong lòng đồng chí, đồng bào niềm tiếc thương vô hạn.
Là đảng viên cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên tham gia sáng lập Đảng, liên tục được Đảng cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương các khóa II, III, IV, V, với gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Lê Văn Lương thể hiện tấm gương của một chiến sĩ cộng sản mẫu mực, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đồng chí là một cán bộ có ý thức tổ chức kỷ luật rất cao, sống trung thực, giản dị, hòa nhã với mọi người, luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của đồng chí, của nhân dân.
Với những hoạt động và cống hiến đối với Đảng, cách mạng và dân tộc, đồng chí Lê Văn Lương đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Vượt lên gian khổ, hoạt động sôi nổi, cống hiến to lớn cho độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân
Với tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng, ngay từ những năm đang học ở trường Bưởi, cùng với người bạn học Nguyễn Văn Cừ, Lê Văn Lương được Ngô Gia Tự giác ngộ cách mạng. Từ khi tham gia Hội Việt nam Cách mạng Thanh niên, càng thêm cơ hội để Lê Văn Lương đem nhiệt huyết của tuổi trẻ đấu tranh chống áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến; rèn luyện và trưởng thành. 17 tuổi, đồng chí đã là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng, hăm hở lao vào cuộc đấu tranh, xây dựng lực lượng, giác ngộ quần chúng, nhen nhóm phong trào cách mạng.
Thực hiện chủ trương "vô sản hóa" của Đảng, đồng chí Lê Văn Lương cùng với Ngô Gia Tự vào Sài Gòn hoạt động trong phong trào công nhân, trực tiếp lao động tại Hãng dầu Socony Nhà Bè. Ngày 23-3-1931, Lê Văn Lương trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh của hơn 400 công nhân Hãng dầu Socony. Sau khi bị mật thám bắt, Lê Văn Lương cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung đều bị kết án tử hình... Lúc ấy, đồng chí mới 18 tuổi. Với bản lĩnh và khí phách của người cộng sản chân chính, các đồng chí đã chuẩn bị sẵn tinh thần để hiên ngang lên máy chém…
Do những tác động tích cực của cách mạng thế giới, nhờ nỗ lực đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, các đồng chí đảng viên và nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi trong Ủy ban đấu tranh đòi ân xá chính trị phạm ở Đông Dương, thực dân Pháp buộc phải giảm án xuống chung thân khổ sai, đày Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung ra Côn Đảo. Suốt 15 năm lao tù, trong đó có 11 năm tại Côn Đảo, nơi địa ngục trần gian do thực dân đặt ra để đày đọa những người chống đối chúng, đồng chí Lê Văn Lương luôn giữ vững khí tiết cách mạng, phẩm chất cộng sản. Với tinh thần “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, Lê Văn Lương đã cùng với các đồng chí của mình thành lập Chi bộ cộng sản ngay trong cái “địa ngục trần gian” ấy. Chi bộ nhà tù đã xác định rõ nhiệm vụ của mình: Lãnh đạo tương tế; lãnh đạo đấu tranh; Lãnh đạo học tập và tự học tập, đào tạo cán bộ cho Đảng; Tổ chức vượt ngục; Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh, biên soạn và dịch thuật tài liệu gửi về cho tổ chức Đảng ở đất liền. Cũng tại đây, đồng chí được Chi bộ cử vào Ban lãnh đạo nhà tù Côn Đảo, tổ chức, lãnh đạo đảng viên trong tù đoàn kết đấu tranh chống lại chế độ lao động khổ sai, chế độ ăn uống đói khát hằng ngày. Là người say mê hoạt động, ngày phải đi làm khổ sai, tối đến, đồng chí Lê Văn Lương vẫn miệt mài viết bài chỉ đạo phong trào đăng trên báo “Tiến lên”- tờ báo bí mật của Hội tù nhân, hướng dẫn đấu tranh trong tù và tập san “Ý kiến chung” - tập san nghiên cứu lý luận trong tù. Khi đồng chí Trần Văn Giàu bị đày ra Côn đảo (tháng 7 năm 1935), đồng chí Lê Văn Lương cùng đồng chí Phạm Hùng giao cho Trần Văn Giàu mở lớp dạy lý luận trong tù. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương cũng là một học viên chăm chỉ của lớp. Tấm gương của đồng chí Lê Văn Lương có ảnh hưởng tích cực đến những người tù ở toàn đảo, đến phong trào cách mạng ở trong nước qua những đồng chí được trả lại tự do hay hết hạn tù. Những hoạt động tích cực của Chi bộ nhà tù và đồng chí Lê Văn Lương đã góp phần đào tạo, rèn luyện được một thế hệ cán bộ của Đảng dày dạn kinh nghiệm, nhiều người có lý luận chỉ đạo phong trào cách mạng không chỉ trong tù mà còn trên phạm vi cả nước sau này.
Đồng chí Lê Văn Lương thuộc thế hệ lãnh đạo đầu tiên của ngành tổ chức Trung ương Đảng và có những năm tháng chăm lo “công việc gốc” này của Đảng. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng đã có nhận xét: “Lê Văn Lương là một đồng chí được đánh giá và sử dụng đúng năng lực”[1][1] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.103. Là một nhà lãnh đạo nòng cốt, Lê Văn Lương có công trong nhiều mặt của công tác Đảng, có tác phong làm việc nghiêm túc, cẩn trọng, công bằng. Trải qua nhiều chức vụ của Đảng và Nhà nước, dù ở cương vị nào đồng chí đều thể hiện sự thận trọng, khéo léo trong xử lý công việc, nhưng kiên định về nguyên tắc Đảng.
Năm 1948, khi được bầu bổ sung làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Chánh Văn phòng Trung ương, đồng chí là người làm việc bên cạnh Bác Hồ và Thường vụ Trung ương, cùng với đồng chí Trường Chinh giải quyết công việc hằng ngày của Đảng. Khi các ban xây dựng Đảng lần lượt ra đời: Đảng vụ (Tổ chức), Kiểm tra, Dân vận, Tài chính, với cương vị Chánh Văn phòng, đồng chí đã chủ động sắp xếp, giúp Trung ương bảo đảm sự vận hành có hiệu quả công việc của Đảng, giữ mối liên hệ giữa Trung ương và các khu ủy, tỉnh ủy. Trong thời gian làm Trưởng Ban Đảng vụ (từ 1948 – 1950), đồng chí đã giúp Trung ương Đảng tiến hành công tác chỉnh đốn tổ chức, mở nhiều cuộc vận động chỉnh đốn tổ chức phối hợp với cuộc vận động cải cách ruộng đất nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng; soạn thảo Điều lệ Đảng mới, làm quy trình nhân sự, lập danh sách những người ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị… góp phần vào công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II thành công.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, đồng chí Lê Văn Lương đã viết bài với chủ đề “Học tập Nghị quyết Đại hội Đảng như thế nào”. Thay mặt Đảng, đồng chí chỉ rõ mục đích của việc học Nghị quyết là: “làm cho mỗi đảng viên tăng gia tinh thần trách nhiệm, tăng gia ý thức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân”. Sau đó (ngày 26-7-1951), đồng chí viết bài: “Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng”, nêu rõ vai trò quan trọng của công tác tư tưởng trong công tác xây dựng Đảng; nêu cao ý thức phụng sự Đảng, phục vụ nhân dân, nhất là phải “nắm vững lập trường và quan điểm giai cấp” trong xây dựng Đảng; thực hiện đúng đường lối quần chúng của Đảng và nâng cao ý thức tổ chức. Đồng chí nêu rõ: “Tất cả cán bộ và đảng viên bất kỳ hoạt động ở ngành nào, cũ hay mới, công nông hay trí thức, cấp trên hay cấp dưới đều phải đoàn kết, nhất trí, phải hăng hái công tác, hăng hái chấp hành nghị quyết của đa số và cấp trên, tuyệt đối phải phục tùng kỷ luật của Đảng”.
Khi đảm nhiệm vai trò Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh. Công tác này đã góp phần phát triển được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh ở các cấp, các ngành, với cơ chế hoạt động ngày càng tiến bộ. Trong công tác tổ chức, đồng chí còn có trách nhiệm cao đối với sinh mạng chính trị của cán bộ, đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng, yêu thương cán bộ, công minh, kiên quyết bảo vệ cái đúng và người tốt, đấu tranh không khoan nhượng với cái sai; gần gũi quần chúng, vì sự tiến bộ của đồng chí mình. Đồng chí luôn đi sát cơ sở, đặc biệt chú trọng chỉ đạo việc thực hiện đường lối, chính sách cán bộ của Đảng.
Trong 10 năm làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (1976- 1986), bên cạnh sự ngổn ngang về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, đồng chí Lê Văn Lương rất chú trọng đến việc xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau. Nhiều chủ trương, phong trào hoạt động của thanh niên mang lại kết quả tích cực như sự ra đời Lực lượng Thanh niên xung phong Thủ đô xây dựng vùng kinh tế mới… đều do đồng chí đề xuất và trực tiếp chỉ đạo. Qua phong trào, nhiều cán bộ trẻ được tuyển lựa làm công tác Đoàn ở cơ sở thời kỳ ấy, nay đã giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy Đảng, chính quyền của thành phố Hà Nội.
Đồng chí Lê Văn Lương là học trò, cộng sự thân tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng cuối đời của Bác, khi Bác đang chữa bệnh ở nước ngoài, đồng chí đã luôn ở bên Bác, nhận những chỉ thị của Bác đối với Bộ Chính trị và truyền đạt lại các ý kiến của Bộ Chính trị đối với Bác. Tấm gương giản dị, chí công vô tư của Bác được đồng chí Lê Văn Lương thấm nhuần sâu sắc. Một ví dụ nhỏ: ngay sau khi không tham gia Ban Chấp hành Trung ương và thôi giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội, đồng chí đã có ý định trả lại căn nhà công vụ mà Trung ương dành cho mình. Ý nguyện ấy đã được người vợ thân yêu của đồng chí - đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận - thực hiện sau này.
Đồng chí Lê Văn Lương là một người lãnh đạo trung thực, ngay thẳng, dám nhận trách nhiệm trước sai lầm, thành thật sửa chữa, không vì lợi ích cá nhân, đồng thời cũng là người nhân hậu, sống có tình, có nghĩa với đồng chí, đồng bào. Ví dụ, trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, do không xuất phát từ thực tiễn nước ta, lại làm theo kinh nghiệm của nước ngoài nên đã phạm phải một số sai lầm. Trước khuyết điểm chung ấy, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã dũng cảm tự phê bình và đề ra phương hướng sửa chữa. Đồng chí Lê Văn Lương đã tích cực xuống cơ sở nắm tình hình và xác minh những sai lầm để báo cáo với Bác, với Trung ương Đảng, giúp Trung ương đề ra những biện pháp sửa sai. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, đồng chí Lê Văn Lương đã dũng cảm, trung thực nêu lên tất cả những sai lầm, thể hiện trong bản báo cáo do đồng chí chuẩn bị trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956. Bản báo cáo đã nhìn thẳng vào sự thật, tổng hợp đầy đủ những sai lầm, tổn thất để Hội nghị Trung ương xem xét và được Hội nghị Trung ương chấp nhận. Hội nghị Trung ương cũng đồng ý những biện pháp sửa sai đã đề ra trong báo cáo như: thả ngay những người bị bắt oan; minh oan ngay cho những người bị bắt oan, bị xử oan; khôi phục đảng tịch cho những đảng viên bị xử lý sai, v v… Do đó, công tác sửa sai của Đảng được tiến hành rất khẩn trương và có kết quả. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương thấy mình có phần trách nhiệm về sai lầm trong công tác chỉnh đốn tổ chức Đảng, đã tự xin rút khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, có hàng vạn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày. Trong số đó, cũng có một số người không chịu nổi sự tra tấn của địch, đã đầu hàng làm tay sai cho chúng. Do đó, một số tổ chức Đảng đã nghi kị, không tin tưởng những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, có nơi không bố trí đề bạt vào các vị trí quan trọng, không bố trí ở một số ban của Đảng. Nhận thấy bất cập ấy, đồng chí Lê Văn Lương, lúc đó là Thường trực Ban Bí thư đã đề xuất với Ban Bí thư ban hành Chỉ thị: “Về việc đón tiếp những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày là những người chiến thắng trở về”. Từ đó, những nghi kỵ, mặc cảm được giải tỏa. Những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị bắt được xác minh rõ ràng thì bố trí, đề bạt như những cán bộ khác. Rất nhiều anh em bị tù đày trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, vì chưa có chính sách thật phù hợp, nên chịu thiệt thòi nhiều mặt. Với sự tham mưu sáng suốt của đồng chí, Đảng, Nhà nước đã nhanh chóng ban hành chính sách mới kịp thời động viên số những người này.
Lúc còn là tù án chém ở Sài Gòn, những cử chỉ, hành động của đồng chí Lê Văn Lương không những thể hiện tấm lòng nhân hậu của đồng chí, mà còn cảm hóa được nhiều tên cai ngục ác ôn. Ví dụ, phía sau xà-lim có rặng đu đủ, chim đến kêu ríu rít. Nhưng ít ngày sau thấy tù án thường cứ vác sào, vác gậy đuổi. Hỏi mới biết cai ngục ra lệnh cho họ phải đuổi chim giữ đu đủ chín cho các tử tù ăn. Đồng chí đã gọi cai ngục vào, bảo: “Cho các anh đuổi chim, chúng tôi không nghe chim ríu rít nữa cũng được… Nhưng đu đủ chín phải để cho con nít ở khám phụ nữ. Chúng không có tội gì mà đã phải ở tù”. Hay một câu chuyện khác: Khi bọn lính gác tước qùa của tù án thường để cho tù chính trị án tử hình, đồng chí đã nói với bọn này: “Người ta ở tù so với chúng tôi còn khổ hơn, chúng tôi cấm các anh lấy của người ta như thế”. Với chính bọn lính gác, đồng chí cũng giác ngộ chúng: “Chúng tôi đánh thằng Tây, đánh đế quốc, thù oán gì các ông”.
Đi công tác ở Hải Phòng khi mới tiếp quản thành phố, đồng chí đã đến ngay các xóm lao động, cùng các đồng chí lãnh đạo của Hải Phòng xem xét giải quyết những vấn đề bức xúc nhất trong cuộc sống của người lao động.
Giữ cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội trong 10 năm (1976-1986), đồng chí Lê Văn Lương đã luôn luôn chăm lo, tìm cách giải quyết kịp thời các khó khăn của dân, thường xuyên kiểm tra để nắm chắc xem còn bao nhiêu gia đình chưa mua được gạo trong tháng, không có nước sạch để dùng, bao nhiêu nơi mất điện, thận trọng xem xét khiếu kiện của dân và có các ý kiến cần thiết cụ thể để giải quyết. Đồng chí đã đem hết tâm huyết lo cho thành phố, lo cho nhân dân vượt qua thời kỳ khó khăn đó.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, đồng chí Lê Văn Lương đã “nêu cao tấm gương trong sáng: trước quân thù - hiên ngang bất khuất, coi án chém nhẹ tựa lông hồng; với công việc - tận tụy, trung thành, liêm chính, bao giờ cũng đặt lợi ích cách mạng lên trên hết và trước hết; với đời sống của nhân dân - chăm lo thiết thực, cụ thể; với đồng chí - khiêm nhường, chu đáo, gần gũi thân tình... ; đối với bản thân - một tấm gương sáng chói về tự phê bình, một nếp sống đặc biệt trong sáng, giản dị và khoan dung”[2][2] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Sđd, Tr. 5../.
----------------------------------------------------
[1] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.103
[2] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Sđd, Tr. 5
Năm 1948, khi được bầu bổ sung làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Chánh Văn phòng Trung ương, đồng chí là người làm việc bên cạnh Bác Hồ và Thường vụ Trung ương, cùng với đồng chí Trường Chinh giải quyết công việc hằng ngày của Đảng. Khi các ban xây dựng Đảng lần lượt ra đời: Đảng vụ (Tổ chức), Kiểm tra, Dân vận, Tài chính, với cương vị Chánh Văn phòng, đồng chí đã chủ động sắp xếp, giúp Trung ương bảo đảm sự vận hành có hiệu quả công việc của Đảng, giữ mối liên hệ giữa Trung ương và các khu ủy, tỉnh ủy. Trong thời gian làm Trưởng Ban Đảng vụ (từ 1948 – 1950), đồng chí đã giúp Trung ương Đảng tiến hành công tác chỉnh đốn tổ chức, mở nhiều cuộc vận động chỉnh đốn tổ chức phối hợp với cuộc vận động cải cách ruộng đất nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng; soạn thảo Điều lệ Đảng mới, làm quy trình nhân sự, lập danh sách những người ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị… góp phần vào công tác chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II thành công.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, đồng chí Lê Văn Lương đã viết bài với chủ đề “Học tập Nghị quyết Đại hội Đảng như thế nào”. Thay mặt Đảng, đồng chí chỉ rõ mục đích của việc học Nghị quyết là: “làm cho mỗi đảng viên tăng gia tinh thần trách nhiệm, tăng gia ý thức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân”. Sau đó (ngày 26-7-1951), đồng chí viết bài: “Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng”, nêu rõ vai trò quan trọng của công tác tư tưởng trong công tác xây dựng Đảng; nêu cao ý thức phụng sự Đảng, phục vụ nhân dân, nhất là phải “nắm vững lập trường và quan điểm giai cấp” trong xây dựng Đảng; thực hiện đúng đường lối quần chúng của Đảng và nâng cao ý thức tổ chức. Đồng chí nêu rõ: “Tất cả cán bộ và đảng viên bất kỳ hoạt động ở ngành nào, cũ hay mới, công nông hay trí thức, cấp trên hay cấp dưới đều phải đoàn kết, nhất trí, phải hăng hái công tác, hăng hái chấp hành nghị quyết của đa số và cấp trên, tuyệt đối phải phục tùng kỷ luật của Đảng”.
Khi đảm nhiệm vai trò Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, đồng chí Lê Văn Lương đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng Đảng ngày càng lớn mạnh. Công tác này đã góp phần phát triển được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh ở các cấp, các ngành, với cơ chế hoạt động ngày càng tiến bộ. Trong công tác tổ chức, đồng chí còn có trách nhiệm cao đối với sinh mạng chính trị của cán bộ, đảng viên và công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng, yêu thương cán bộ, công minh, kiên quyết bảo vệ cái đúng và người tốt, đấu tranh không khoan nhượng với cái sai; gần gũi quần chúng, vì sự tiến bộ của đồng chí mình. Đồng chí luôn đi sát cơ sở, đặc biệt chú trọng chỉ đạo việc thực hiện đường lối, chính sách cán bộ của Đảng.
Trong 10 năm làm Bí thư Thành ủy Hà Nội (1976- 1986), bên cạnh sự ngổn ngang về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, đồng chí Lê Văn Lương rất chú trọng đến việc xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau. Nhiều chủ trương, phong trào hoạt động của thanh niên mang lại kết quả tích cực như sự ra đời Lực lượng Thanh niên xung phong Thủ đô xây dựng vùng kinh tế mới… đều do đồng chí đề xuất và trực tiếp chỉ đạo. Qua phong trào, nhiều cán bộ trẻ được tuyển lựa làm công tác Đoàn ở cơ sở thời kỳ ấy, nay đã giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy Đảng, chính quyền của thành phố Hà Nội.
Đồng chí Lê Văn Lương là học trò, cộng sự thân tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng cuối đời của Bác, khi Bác đang chữa bệnh ở nước ngoài, đồng chí đã luôn ở bên Bác, nhận những chỉ thị của Bác đối với Bộ Chính trị và truyền đạt lại các ý kiến của Bộ Chính trị đối với Bác. Tấm gương giản dị, chí công vô tư của Bác được đồng chí Lê Văn Lương thấm nhuần sâu sắc. Một ví dụ nhỏ: ngay sau khi không tham gia Ban Chấp hành Trung ương và thôi giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội, đồng chí đã có ý định trả lại căn nhà công vụ mà Trung ương dành cho mình. Ý nguyện ấy đã được người vợ thân yêu của đồng chí - đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận - thực hiện sau này.
Đồng chí Lê Văn Lương là một người lãnh đạo trung thực, ngay thẳng, dám nhận trách nhiệm trước sai lầm, thành thật sửa chữa, không vì lợi ích cá nhân, đồng thời cũng là người nhân hậu, sống có tình, có nghĩa với đồng chí, đồng bào. Ví dụ, trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, do không xuất phát từ thực tiễn nước ta, lại làm theo kinh nghiệm của nước ngoài nên đã phạm phải một số sai lầm. Trước khuyết điểm chung ấy, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã dũng cảm tự phê bình và đề ra phương hướng sửa chữa. Đồng chí Lê Văn Lương đã tích cực xuống cơ sở nắm tình hình và xác minh những sai lầm để báo cáo với Bác, với Trung ương Đảng, giúp Trung ương đề ra những biện pháp sửa sai. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, đồng chí Lê Văn Lương đã dũng cảm, trung thực nêu lên tất cả những sai lầm, thể hiện trong bản báo cáo do đồng chí chuẩn bị trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1956. Bản báo cáo đã nhìn thẳng vào sự thật, tổng hợp đầy đủ những sai lầm, tổn thất để Hội nghị Trung ương xem xét và được Hội nghị Trung ương chấp nhận. Hội nghị Trung ương cũng đồng ý những biện pháp sửa sai đã đề ra trong báo cáo như: thả ngay những người bị bắt oan; minh oan ngay cho những người bị bắt oan, bị xử oan; khôi phục đảng tịch cho những đảng viên bị xử lý sai, v v… Do đó, công tác sửa sai của Đảng được tiến hành rất khẩn trương và có kết quả. Bản thân đồng chí Lê Văn Lương thấy mình có phần trách nhiệm về sai lầm trong công tác chỉnh đốn tổ chức Đảng, đã tự xin rút khỏi Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, có hàng vạn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày. Trong số đó, cũng có một số người không chịu nổi sự tra tấn của địch, đã đầu hàng làm tay sai cho chúng. Do đó, một số tổ chức Đảng đã nghi kị, không tin tưởng những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, có nơi không bố trí đề bạt vào các vị trí quan trọng, không bố trí ở một số ban của Đảng. Nhận thấy bất cập ấy, đồng chí Lê Văn Lương, lúc đó là Thường trực Ban Bí thư đã đề xuất với Ban Bí thư ban hành Chỉ thị: “Về việc đón tiếp những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày là những người chiến thắng trở về”. Từ đó, những nghi kỵ, mặc cảm được giải tỏa. Những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị bắt được xác minh rõ ràng thì bố trí, đề bạt như những cán bộ khác. Rất nhiều anh em bị tù đày trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, vì chưa có chính sách thật phù hợp, nên chịu thiệt thòi nhiều mặt. Với sự tham mưu sáng suốt của đồng chí, Đảng, Nhà nước đã nhanh chóng ban hành chính sách mới kịp thời động viên số những người này.
Lúc còn là tù án chém ở Sài Gòn, những cử chỉ, hành động của đồng chí Lê Văn Lương không những thể hiện tấm lòng nhân hậu của đồng chí, mà còn cảm hóa được nhiều tên cai ngục ác ôn. Ví dụ, phía sau xà-lim có rặng đu đủ, chim đến kêu ríu rít. Nhưng ít ngày sau thấy tù án thường cứ vác sào, vác gậy đuổi. Hỏi mới biết cai ngục ra lệnh cho họ phải đuổi chim giữ đu đủ chín cho các tử tù ăn. Đồng chí đã gọi cai ngục vào, bảo: “Cho các anh đuổi chim, chúng tôi không nghe chim ríu rít nữa cũng được… Nhưng đu đủ chín phải để cho con nít ở khám phụ nữ. Chúng không có tội gì mà đã phải ở tù”. Hay một câu chuyện khác: Khi bọn lính gác tước qùa của tù án thường để cho tù chính trị án tử hình, đồng chí đã nói với bọn này: “Người ta ở tù so với chúng tôi còn khổ hơn, chúng tôi cấm các anh lấy của người ta như thế”. Với chính bọn lính gác, đồng chí cũng giác ngộ chúng: “Chúng tôi đánh thằng Tây, đánh đế quốc, thù oán gì các ông”.
Đi công tác ở Hải Phòng khi mới tiếp quản thành phố, đồng chí đã đến ngay các xóm lao động, cùng các đồng chí lãnh đạo của Hải Phòng xem xét giải quyết những vấn đề bức xúc nhất trong cuộc sống của người lao động.
Giữ cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội trong 10 năm (1976-1986), đồng chí Lê Văn Lương đã luôn luôn chăm lo, tìm cách giải quyết kịp thời các khó khăn của dân, thường xuyên kiểm tra để nắm chắc xem còn bao nhiêu gia đình chưa mua được gạo trong tháng, không có nước sạch để dùng, bao nhiêu nơi mất điện, thận trọng xem xét khiếu kiện của dân và có các ý kiến cần thiết cụ thể để giải quyết. Đồng chí đã đem hết tâm huyết lo cho thành phố, lo cho nhân dân vượt qua thời kỳ khó khăn đó.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, đồng chí Lê Văn Lương đã “nêu cao tấm gương trong sáng: trước quân thù - hiên ngang bất khuất, coi án chém nhẹ tựa lông hồng; với công việc - tận tụy, trung thành, liêm chính, bao giờ cũng đặt lợi ích cách mạng lên trên hết và trước hết; với đời sống của nhân dân - chăm lo thiết thực, cụ thể; với đồng chí - khiêm nhường, chu đáo, gần gũi thân tình... ; đối với bản thân - một tấm gương sáng chói về tự phê bình, một nếp sống đặc biệt trong sáng, giản dị và khoan dung”[2][2] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Sđd, Tr. 5../.
----------------------------------------------------
[1] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.103
[2] Lê Văn Lương trọn đời vì sự nghiệp của Đảng, Sđd, Tr. 5
25/03/2012
✯✯✯
Nguồn Tạp chí Cộng Sản.
Subscribe to:
Posts (Atom)