Di tích Giếng nước cổ Tam Kỳ

Monday, April 1, 2013
Cổng làng vừa khánh thành di tích giếng cổ Cổng Đồng (Giếng nước cổ Tam Kỳ) có tuổi hơn 1200 năm.
Nguyễn Hoàng Uyên

Con gái làng Hoa (*)
Uống nước giếng đá
Da dẻ nõn nà
Đắt chồng nhờ giếng
.

(Tục ngữ, Ca dao Hưng Yên)

(*) Làng hoa tức làng Hoa Cầu hay Xuân Cầu thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang.


Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (1) KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Monday, March 18, 2013
quyvanchuong


Trích đăng từ cuốn sách "HUYỀN TÍCH ĐỒNG TỈNH XUÂN CẦU" của tác giả Trần Xuân Đạt

Mời xem:

Chương I: KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG ĐỒNG TỈNH – XUÂN CẦU

Chương II: LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

GIAI THOẠI VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI HAI THÔN

II. ĐỒNG TỈNH – HOA CẦU NGÀN NĂM VĂN VẬT - PHONG TỤC TẬP QUÁN
II.1 CHUYỆN VỀ CÁC DANH NHÂN


Chương 1 - KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG ĐỒNG TỈNH – XUÂN CẦU


TIỂU DẪN:

Dải đất Nghĩa Trụ được ghi lại trong Đại Việt Sử LượcĐại Việt Sử Lược:
(chữ Hán: 大越史略), còn có tên là Việt sử lược (越史略), là một cuốn lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán của một tác giả khuyết danh, ra đời vào thời nhà Trần. Đây là cuốn sử biên niên thuộc hàng sớm nhất của Việt Nam còn được lưu truyền cho đến nay.
Đọc bản PDF tại Viện Việt Học.
(chính sử) từ cuối thời Lý Cao TôngLý Cao Tông:
(chữ Hán: 李高宗, 1173–1210) là vị vua thứ bảy của nhà Lý, cai trị từ năm 1176 đến năm 1210.
Tượng thờ vua Lý Cao-Tông
, là vùng đất cổ, song song tồn tại cùng kinh thành Long Biên. Dải đất này có quá trình hình thành lâu dài nhờ lượng phù sa của dòng chảy sông Hồng chuyên chở từ cao nguyên Vân Nam Trung Quốc bồi đắp lên hàng triệu năm liên tục. Nếu tính từ thời Triệu Quang PhụcTriệu Quang Phục:
Triệu Việt Vương (chữ Hán: 趙越王; ?-571), tên thật là Triệu Quang Phục (趙光復), là vua Việt Nam cai trị từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.
đem binh về đây (Bãi SậyBãi sậy:
là một địa danh nổi tiếng gắn với một trong những cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX. Bãi sậy là một vùng đầm nước, um tùm lau sậy, nơi đây chính là căn cứ của nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo. Căn cứ Bãi Sậy là khu rừng sậy ở giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào. Vị trí Bãi Sậy hiểm yếu và có nhiều đường thông ra ngoài, tiện phòng thủ, thuận lợi trong tiến công, nơi đây còn có rất nhiều hầm hào luồn dưới những thân sậy, lớp nọ chồng lên lớp kia. Rắn độc cũng rất nhiều.

Tương truyền để lọt vào được căn cứ, phải vượt qua những đám sậy cao tới 3 mét cùng những gai mỏ quạ, cả gai leo, gai dứa cùng những cây lá han đụng vào là sưng tấy nhức buốt đến tận xương. Nếu vượt qua được cây lau sậy và đầm lầy, thì còn vô vàn những con đỉa đói bám lấy mà hút máu...
Màn TròMàn Trò:
Dạ Trạch là vùng đất thuộc xã Dạ Trạch, còn gọi là bãi Màn Trò, hay Mạn Trù, nay thuộc xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên nằm bên bờ sông Hồng. Tên xã lấy từ tên của đầm Dạ Trạch, xuất phát từ điển tích đầm một đêm (Nhất Dạ Trạch) của truyền thuyết Tiên Dung - Chử Đồng Tử trong dân gian. Vùng đất này xưa kia vì đê vỡ liên tiếp, nên không cày cấy được, lau sậy mọc đầy. Đây là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thời Bắc thuộc của Triệu Quang Phục thế kỷ VI chống quân
nhà LươngNhà Lương:
(tiếng Trung: 梁朝; bính âm: Liáng cháo) (502-557), còn gọi là nhà Nam Lương (南梁), là triều đại thứ ba của Nam triều trong thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc, sau thời kỳ của triều đại Nam Tề và trước thời kỳ của triều đại Trần. Kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh)...
và cũng là một trong những căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp thế kỉ XIX do Nguyễn Thiện Thuật làm chủ soái.) lập căn cứ chống lại quân nhà Lương (Quân nhà Lương do mãnh tướng Lý Bá TiênTrần Bá Tiên:
Trần Vũ Đế (chữ Hán: 陳武帝), tên thật là Trần Bá Tiên (陳霸先) 503-559) là vị vua đầu tiên, người sáng lập ra nhà Trần thời Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc.
Hoàng đế nhà Trần
dẫn binh bao vây nhằm cắt đứt đường tiếp vận lương thực, với mục đích khi cạn lương quân khởi nghĩa phải tự ra hàng, nhưng nghĩa quân của Triệu Quang Phục đã tổ chức khẩn hoang cày cấy gieo trồng, tự cung cấp lấy nguồn lương thực, dưỡng sức luyện quân chờ cơ hội tổng tấn công truy quét tiêu diệt quân giặc đã khiến cuộc bao vây của Lý Bá Tiên thất bại hoàn toàn.



Sau vì loạn Hầu Cảnhloạn Hầu Cảnh (Đông Ngụy):
(chữ Hán: 侯景之乱, Hầu Cảnh chi loạn) là cuộc nổi dậy của tướng lĩnh nhà Đông Ngụy là Hầu Cảnh chống lại quyền thần Cao Trừng diễn ra từ tháng 2 năm 547 đến tháng giêng năm 548. Cuộc nổi dậy này liên quan đến cả 3 nước chia ba Trung Quốc thành thế chân vạc khi đó là Đông – Tây Ngụy ở Trung Nguyên và nhà Lương ở phía nam Trường Giang...

loạn Hầu Cảnh:
(chữ Hán: 侯景之乱, Hầu Cảnh chi loạn) là cuộc nổi dậy chống lại triều đình nhà Lương của hàng tướng Hầu Cảnh đến từ nhà Đông Ngụy, diễn ra từ tháng 8 năm 548 đến tháng 4 năm 552...
, Lý Bá Tiên phải về nước, giao quyền chủ tướng cho Dương Sàn, quân Lương đã bị Triệu Việt Vương tung quân đánh bại), thì dải đất Nghĩa Trụ này đã từng tồn tại và có dấu chân người khoảng những năm 547 - 550 sau công nguyên. Trong phần viết này cũng như dọc suốt phần khai triển cuốn sách, tên các địa danh một số làng, xã thường xuyên có sự thay đổi theo mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, của mỗi triều đại vua chúa trị vì, của mỗi thời đại. Làng Đồng Tỉnh có giai đoạn gọi Cửu Tỉnh, làng Xuân Cầu có giai đoạn gọi Hoa Cầu, Huê Cầu, Huê Kiều, ngày nay gồm ba thôn (Tam Kì, Phúc Thọ, Lê Cao) xã Nghĩa Trụ có thời kỳ gọi Tổng Xuân Cầu, xã Xuân Cầu. Để giúp người đọc tiện theo dõi, đối chiếu, tác giả luôn bám sát các dữ liệu lịch sử giữ nguyên tên gọi theo từng giai đoạn...


 ❧ ❀ ❧


Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết

A. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ - XÃ HỘI

1. Sơ lược lịch sử:
Làng Đồng Tỉnh và làng Xuân Cầu ngày nay thuộc địa giới hành chính của xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, là dải đất nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách Sông Hồng về phía Tây khoảng 12km. Phía Đông cách quốc lộ 5 về khoảng 0.5km, tiếp giáp bờ tây sông Nghĩa Trụ (Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải) chảy xuôi theo hướng Bắc – Nam, hệ thống thuỷ nông này phát triển từ một nhánh nhỏ của sông Cái, khởi đầu dòng chảy từ cửa Xuân Quan đến cống Tranh hợp lưu cùng sông Hoan Ái, thành dòng chảy nhỏ (chi lưu) song song với sông Hồng, và tiếp tục phân chia thành nhiều nhánh nhỏ toả đi khắp vùng đất Hưng Yên, Hải Dương và một số vùng lân cận). Phía Tây nam cách chùa Vĩnh Khúc (và đền Khúc Lộng, nơi thờ Triệu Quang Phục) khoảng 3km. Phía Tây là cánh đồng rộng lớn. Hai thôn nằm trong dải khí hậu của thủ đô Hà Nội. Thuỷ văn chịu sự điều tiết dòng chảy sông Hồng, nên dải khí hậu sông Hồng có ảnh hướng rất lớn đến môi trường khí hậu và vi khí hậu trong toàn vùng.

Khảo sát sơ bộ qua một số di vật khảo cổ năm 1965, tìm thấy trong lòng giếng đá cổ (giếng Đình Ba) nơi địa phận giáp gianh giữa hai làng Đồng Tỉnh và Tam Kì (theo đơn vị hành chính triều Lê năm 1496), mang đậm dấu ấn giai đoạn phát triển văn hóa Hán. Qua một số chứng tích văn hoá còn lưu trữ được trong các miếu thờ thần như sắc phong của các triều đại, các câu ca dao, tục ngữ, các làn điệu hát dân gian, các bản gia huấn ca, các bản gia phả dòng họ, các lễ tục, phong tục tập quán còn tồn tại cho tới ngày ngày nay, cho thấy lịch sử phong hoá của làng Đồng Tỉnh và làng Xuân Cầu có chiều dài lên tới hàng ngàn năm.

Một số di chỉ văn bia, vùng đất Tế Giang (Văn Giang ngày nay) và địa danh Nghĩa Trụ được nhắc tới nhiều vào thời nhà Lý, Đặc biệt sau cuộc nổi loạn của Phạm DuPhạm Du:
(范兪, ? – 1209) là tướng nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, dưới triều vua Lý Cao Tông - vị vua thứ bảy của nhà Lý.
trong đất Nghệ An. Trải qua thời đại nhà Trần, tới thời đại nhà Lê và các triều đại nối tiếp sau này trang Đồng Tỉnh, trang Hoa Cầu của tổng Hoa Cầu huyện Tế Giang trấn Kinh Bắc được biết tới qua nhiều bản sắc phong của triều đình mỗi triều đại.

Làng Xuân Cầu vào thời Lê sơ lược ghi trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi như một làng nghề truyền thống nổi tiếng với nghề nhuộm thâm ”Làng Huê Cầu nhuộm thâm... Huê Cầu thuộc huyện Văn Giang, làng ấy cung ứng đồ cống phú cho Trung Quốc là 200 tấm vải thâmDư địa chí”.

Làng Đồng Tỉnh với sự xuất hiện của trang thiếu niên tuấn kiệt, mới 13 tuổi đã tỏ rõ khí phách anh hùng của một thần tướng giúp triều đình nhà Lê trung hưng đánh giặc phương Bắc (Ai Lao - NV), lập công lớn được vua sắc dụ cho dân trong làng lập đền thờ làm thành hoàng làng đời đời cúng tế. Vị nhân thần này còn là người có công đem cây thuốc lào về cho nhân dân địa phương cùng nghề trồng và buôn bán thuốc lào phát triển rộng rãi cho đến ngày nay, như một thứ sản vật nổi tiếng trong nước với câu ca dao:

Ai về Đồng Tỉnh – Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm...

(ca dao).

2. Địa giới:
Làng Đồng Tỉnh hiện nay tính từ phía bắc giáp Xuân Cầu, các xóm dân cư phát triển theo trục bắc nam là: xóm Hổ, xóm Đồng có địa giới tiếp giáp với làng Xuân Cầu; xóm Đình, xóm Xá, xóm Sông ở vào trung tâm làng; xóm Mới tiếp giáp với làng Thọ Vực, xóm được thành lập sau năm 1990, thuộc quỹ đất dãn dân của thôn, phía Tây là cánh đồng lúa màu, phía Đông là sông Nghĩa Trụ.

Làng Xuân Cầu từ phía Bắc trở xuống là thôn Lê Cao, Phúc Thọ, Tam Kì, phía Nam là tiếp giáp làng Đồng Tỉnh, Phía Tây là cánh đồng trồng lúa và hoa mầu, phía Đông là dòng sông Nghĩa Trụ.

3. Đất đai:
Ở Đồng Tỉnh - Xuân Cầu đã từng tồn tại một số loại ruộng như sau: (Theo khảo tả của Giáo sư Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc trong cuốn sách "Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam" – Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 1996 - chủ biên Tương Lai).
  • Ruộng đình có 40 mẫu, chia đều cho các giáp thuộc thôn Tam Kỳ cày cấy. Người đăng cai tế chính thần và các vị á thần vào ngày 25 tháng 2 âm lịch thì được cày 1 mẫu. Khoán ước làng còn ghi rõ: “hàng năm phải nộp 400 đấu thóc cho làng, nếu gặp năm mất mùa thì tuỳ lượng”. Số ruộng nàyđược bảo lưu khá chặt chẽ, đến giữa thế kỷ này vẫn còn. (ở Đồng tỉnh ngày giỗ chính thần là 25 tháng 10 âm lịch hàng năm).
  • Ruộng chùa có 30 mẫu, phân chia cho 3 xóm cày cấy. Hoa lợi dùng cho ngày lễ chùa và ngày hội chùa ngày 1 tháng 4 hàng năm (theo âm lịch).
  • Ruộng tư văn, có vào cuối thế kỷ XVII được duy trì đến năm 1945, số lượng khoảng vài mẫu. Hoa lợi trừ phần người cày, còn lại chi phí cho sinh hoạt hội, tế Khổng Tử và các tiên hiền của làng và một phần giúp cho học trò nghèo. (ở Đồng Tỉnh không có loại ruộng này).
  • Ruộng họ là ruộng của dòng họ. Xuân Cầu có 17 dòng họ lâu đời. Họ nào cũng có ruộng, nhiều thì vài ba mẫu như họ Tô, họ Quản, họ Nguyễn; ít cũng 2-4 sào.
  • Ruộng hậu có nguồn gốc từ những người không có con trai hay tuyệt tự cúng vào chùa và những nhà thờ họ. Số ruộng này theo thời gian không bị giảm sút mà có lúc tăng thêm.
  • Ruộng Giáp là ruộng cua các giáp trong làng. Các thành viên trong giáp lần lượt được làm trùm giáp trong một năm thì được cày ruộng giáp hoa lợi chia đôi, 1 cho người cày và 1 để cho giáp.
  • Ruộng hậu dân (hậu đình). Đến đầu thế kỷ này, Xuân Cầu có 9 mẫu, đặt dưới quyền của Trùm chạ quản lý.
  • Ruộng đồng môn, do môn sinh đóng góp tiền mua ruộng để cúng giỗ thầy học.
Ngoài số ruộng trên, còn có một số loại ruộng khác là: Ruộng tế đinh, (1mẫu), ruộng khánh tiết còn gọi là ruộng xôi gà, ruộng đông chí, ruộng cơm mới, ruộng quan viên (2 sào), ruộng trùm.

Nêu lên 16 loại ruộng trong đó công điền và nửa công tư là để thấy mỗi loại ruộng là cơ sở vật chất cho một loại quan hệ của một bộ phận dân cư trong cộng đồng làng xuân cầu. 16 loại ruộng là 16 mối quan hệ, mà thực chất là những liên kết về tín ngưỡng, dòng họ, nghề nghiệp, láng giềng (xóm giáp) và cả thầy trò.

Tất nhiên Xuân Cầu còn có ruộng đất tư hữu nhiều hơn tông số các loại ruộng trên. Sở hữu loại ruộng đất tư này manh mún, mỗi thửa chỉ một vài sào”.

Hiện nay làng Đồng Tỉnh có tổng diện tích đất… ha, trong đó
đất nông nghiệp phục vụ cho cày cấy 2 vụ/năm và trồng hoa màu vào khoảng…ha,
diện tích đất ở… ha,
quỹ đất dự phòng dãn dân… ha,
tổng sản lượng lúa thu hoạch hàng năm trên mỗi sào (Bắc Bộ = 360m2) là…kg/sào.
Diện tích ao hồ, đầm phá dự trữ lượng nước tưới cho cánh đồng của thôn …ha.

Làng Xuân Cầu...

B. MÔI TRƯỜNG NHÂN VĂN – SINH THÁI

1. Con người:
Hiện nay dân cư khu trú trên địa bàn làng Đồng Tỉnh và Làng Xuân Cầu … người, gồm … hộ gia đình, tỷ lệ nông nghiệp …%; tỷ lệ bán nông nghiệp…%, cán bộ công nhân viên chức nhà nước…%. Tỷ lệ người cao tuổi trên 60 là… chiếm %, người đang trong độ tuổi lao động từ 18 – 59 tuổi là… %, lứa tuổi thanh thiếu niên học sinh, sinh viên 1 – 17 tuổi là… %.

Từ nhiều năm nay (sau năm 1975) được đánh giá cao về chất lượng học sinh các cấp học, năng lực tiếp thu kiến thức từ nhà trường khá tốt, số lượng học sinh giỏi hàng năm tăng cao, số sinh viên đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, và các trường dạy nghề trong toàn quốc, đã góp phần tô điểm thêm truyền thống hiếu học, tôn thầy trọng đạo của người dân trong xã Nghĩa Trụ.


2. Sinh thái:
Hai làng có địa giới nằm dọc theo dòng chảy của con sông Nghĩa Trụ, nên hệ thống cây xanh và giao thông, thuỷ bộ thuận tiện, công tác tiêu thoát nước đều đảm bảo, ý thức giữ gìn môi trường xanh sạch được mỗi người dân tự giác chấp hành. Hệ thống đường liên thôn, liên xã đều được bê tông hoá hoàn toàn, cũng góp phần tạo ra nét riêng trong sinh hoạt thường ngày của người dân trong vùng đệm của các khu công nghiệp (bán công nghiệp).

C. CÁC NGHỀ TRUYỀN THỐNG

Theo vị trí địa lý, huyện Văn Giang thuộc hạ lưu của dòng Sông Hồng, có vùng đất bồi do phù sa tích tụ, lắng đọng hàng nghìn năm kiến tạo, đây là yếu tố thuận lợi của ngành sản xuất nông nghiệp mà cây lương thực chủ lực là các loại lúa nước. Đồng Tỉnh và Xuân Cầu khởi nguồn vốn là vùng đất trũng trong bãi lầy lau sậy, theo mùa nước lũ, nước cạn của dòng chảy sông Hồng mà thâu nhận lấy lượng phù sa màu mỡ trải qua hàng nghìn năm, độ dày kết lắng của lớp trầm tích thuộc hệ tầng Hà Nội khoảng 3.5 mét.

Độ cao so với mặt nước biển khoảng 3–4 mét. Cư dân sinh sống sản xuất nơi đây có tầng văn hoá đặc trưng của cộng đồng làng xã Bắc Bộ, pha trộn sắc thái thị trấn, thị tứ với nhiều nghề sinh sống, buôn bán khác nhau.


1. Nghề trồng và chế biến tiêu thụ các loại lúa nước, nông sản




2. Nghề trồng cây rau màu:
  • ngô,
  • khoai,
  • xu hào,
  • cải bắp,
  • cà chua,
  • các lọai rau xanh, cây gia vị


3. Nghề trồng cây công nghiệp:
  • đỗ tương, lạc, vừng…
  • hương nhu,
  • thầu dầu,
  • thuốc lào.


4. Nghề tiểu thủ công nghiệp:
  • sản xuất bao bì,
  • tái chế nhựa phế thải,
  • gia công may mặc.
  • đồ sắt,
  • đồ mộc gia dụng.

D. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH

Hương ấp Đồng Tỉnh, Hoa Cầu vào thời Lê, thuộc miền châu thổ đồng bằng sông Hồng, có đặc điểm thổ nhưỡng thềm lục địa và bán đảo Đông Nam Á, đặc tính khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng mưa trung bình hàng năm cao. Có độ dốc địa hình trong cấu tạo giữa các lớp đất đá gốc và bề mặt nghiêng theo trục Tây-Đông tương đối lớn. Là khu trung tâm của vùng đất đầm lầy lau sậy thuộc dải đất Nghĩa Trụ thuộc huyện Tế Giang, phủ Thuận An, lộ Bắc Giang.
Huyện Tế Giang là địa danh được xác lập vào đời Lý, trải qua các triều đại Trần, đến thời Lê đổi là huyện Văn Giang, nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên, phía bắc giáp thành phố Hà Nội, phía nam giáp huyện Khoái Châu, huyện Yên Mỹ, phía đông giáp huyện Văn Lâm, phía tây giáp tỉnh Hà Tây, có 11 đơn vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 71,79 km2:
  • Thị trấn Văn Giang diện tích hành chính là 6,84 km2
  • Xã Xuân Quan diện tích hành chính là 5,31 km2
  • Xã Cửu Cao diện tích hành chính là 4,40 km2
  • Xã Phụng Công diện tích hành chính là 4,89 km2
  • Xã Long Hưng diện tích hành chính là 8,49 km2
  • Xã Liên Nghĩa diện tích hành chính là 6,15 km2
  • Xã Tân Tiến diện tích hành chính là 9,92 km2
  • Xã Thắng Lợi diện tích hành chính là 4,84 km2
  • Xã Mễ Sở diện tích hành chính là 6,64 km2
  • Xã Nghĩa Trụ diện tích hành chính là 8,12 km2
  • Xã Vĩnh Khúc diện tích hành chính là 6,19 km2
Dải đất Nghĩa Trụ trải dài bên hữu ngạn con sông nhánh Nghĩa Trụ, là một trong 161 xã, phường, thị trấn của tỉnh Hưng Yên. Cũng như các vùng đất khác thuộc đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm.

Hàng năm có hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Số giờ nắng trung bình 1.519 giờ/năm, trung bình số ngày nắng trong tháng là 24 ngày; nhiệt độ trung bình mùa hè 23,2oC, mùa đông 16oC. Tổng nhiệt độ trung bình của năm từ 8.500 - 8.600oC.
Lượng mưa trung bình từ 1.450 - 1.650 mm, tháng 5 đến tháng 10 chiếm tới 70% lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình trong năm là 86%, tháng cao nhất 92%, thấp nhất 79%.

Dải đất Nghĩa Trụ xưa kia thông xuống lị sở Tế Giang theo hai đường thuỷ, bộ là vị trí quân sự và phòng thủ chiến lược rất thuận tiện cho thuỷ quân tác chiến, khi ấy bao gồm các địa danh Hoa Cầu, Đồng Tỉnh, Bảo Vực, Khúc Lộng, Vĩnh Bảo chịu sự quản lý hành chính trực tiếp của lị sở Tế Giang. Đất Nghĩa Trụ với hai hương ấp Đồng Tỉnh, Hoa Cầu rất sầm uất, mang tích chất tiêu biểu cho cả vùng văn hoá Nghĩa Trụ bởi có Cầu Nổi (Phù Kiều) bắc qua sông Nghĩa Trụ thông đất Đồng Tỉnh với Chợ Cái và xứ Đông (Hải Dương) theo đường giao thông bộ, cùng bến thuyền Hoa Cầu (cách bến thuyền Tế Giang khoảng 5 km), là đường thuỷ vận chuyển quan trọng, đồng thời cũng là những đầu mối giao thương nhộn nhịp giữa kinh sư và các lộ.

Vùng đất Tế Giang* là tên gọi xuất hiện trong chính sử từ thời Thập nhị sứ quânLoạn 12 sứ quân:
là một giai đoạn loạn lạc của lịch sử Việt Nam, xen giữa nhà Ngô và nhà Đinh. Giai đoạn này hình thành và phát triển mạnh từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử.
, với vị đầu lĩnh Lữ ĐườngLã Đường:
hay Lữ Đường (chữ Hán: 呂唐), xưng hiệu Lã Tá công (呂佐公) là một sứ quân trong thời 12 sứ quân cuối triều nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam, cát cứ vùng Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên).
, đến triều đại vua Lý Huệ Tông địa danh được gắn liền với bến thuyền trên ngã ba sông, nơi gặp nhau của hai dòng chảy, một từ sông Cầu qua Thổ Khối đổ đến và một từ sông Cái qua địa phận làng Bát (cửa Xuân Quan, cửa Đại Thông) hợp lưu tại dòng Nghĩa Trụ rồi đổ vào dòng Hoan Ái (Cống Tranh) đến sông Thái Bình sau đó lại hợp lưu cùng sông Cái đổ ra biển (Cửa Đại Hoàng?).

* Theo cuốn sách Miền quê Văn Giang của tác giả Trần Khắc Cần – Nhà xuất bản Văn Hoá Dân Tộc - 2004:
khi giải thích về nguồn gốc (huyện Văn Giang) Tế Giang là tên một con sông. Sông Tế Giang lớn. Khi nước triều lên, càng rộng, nối sông Hồng với sông Thương, Sông Cầu, là đường vận tải thuỷ chở các sản vật miền xuôi lên vùng núi Bắc Giang, Thái Nguyên và ngược lại.

* Theo Đại Việt sử lược:
Trần Tự Khánh lại đi Kinh lược Lạng Châu đến tận núi Tam Trĩ. Hầu hết đất đai Trần Tự Khánh lấy được cả. Tháng chạp Trần Tự Khánh rầm rộ kéo binh đến đóng ở bến Tế Giang vùng đất Nghĩa Trụ.

* Theo sách "Các trấn tổng xã danh bị lãm" in đời Gia Long:
Huyện Văn Giang (Tế Giang) thuộc phủ Thuận An, Xứ Kinh Bắc gồm 9 tổng, 61 xã, thôn, sở:
  • Tổng Hoà Bình có 8 xã: Hoà Bình, Vĩnh Lộc, Ốc Nhiêu, Ngân Hạnh, Chấn Đông, Từ Hồ, Lại Trạch, Đại Hạnh.

  • Tổng Đại Từ có 6 xã: Đại Từ, Đông Mai, Lộng Đình, Cát Lô, Trịnh Xá, Nghĩa Lộ.
  • Tổng Đồng Than có 6 xã: Đồng Than, Trang Vũ, Kênh Cầu, Lạc Cầu, Thanh Nga, Hoàng Đôi.
  • Tổng Phụng Công có 10 xã, sở: Phụng Công, Công Luận, sở Đan Nhiễm, Dương Liệt, Phi Liệt, Sâm Khố, Tầm Tang, Phù Liệt, Quán Trạch, Đan Kim.
  • Tổng Thái Lạc có 9 xã: Thái Lạc, An Lạc, Lạc Miếu, Ôn Xá, Thú Dương, Thanh Đặng, Hoàng Nha, Hương Lãng, Thanh Khê.
  • Tổng Đa Ngưu có 9 xã: Đa Ngưu, Kim Ngưu, Bá Khê, Nhân Nội, Như Phượng, Như Lân, Ngọc Bộ, Lại Ốc, Nhân Vực.
  • Tổng Đại Quan châu có 4 xã: Đại Quan châu, Chử Xá châu, Trung Quan châu, San Hô châu. (thời Lý Huệ Tông có tên gọi châu Đại Thông?)
  • Tổng Hoa Cầu có 6 xã, thôn: Hoa Cầu, Đồng Tỉnh, Bảo Vực, Khúc Lộng, thôn Đông Khúc thuộc xã Khúc Lộng, Vĩnh Bảo.
  • Tổng An Phú có 3 xã: An Phú, Thổ Cốc, Hiến Phạm.


Đến thời thuộc pháp sau khi chia lại địa giới hành chính tổng Xuân Cầu gồm: xã Xuân Cầu, xã Đồng Tỉnh, xã Vĩnh An, xã Vĩnh Bảo, xã Đông Khúc, xã Khúc Lộng, xã Thọ Vực, xã Đại Tài.

Sau năm 1945, còn lại 6 thôn thuộc tổng Xuân Cầu:
Thôn Đồng Tỉnh, thôn Tam Kỳ, Thôn Phúc Thọ, thôn Lê Cao, thôn Đại Tài, thôn Bảo Vực.

Năm 1947 tháng 10, huyện Văn Giang được tách ra khỏi tỉnh Bắc Ninh chuyển về tỉnh Hưng Yên. Tổng Xuân Cầu thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.

Năm 1950, tổng Xuân Cầu được trở về với tên ban đầu của nó là xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang.

Năm 1968 tháng 01 theo nhu cầu quản lý hành chính và bước phát triển mới của nhà nước, hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên được sát nhập thành tỉnh Hải Hưng. Xã Nghĩa Trụ thuộc về huyện Văn Giang tỉnh Hải Hưng.

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, một số xã của huyện Văn Giang sáp nhập cùng huyện Yên Mỹ thành huyện Văn Yên, lại có sự chia tách một số xã của Văn Giang, Yên Mỹ, Mỹ Hào thành huyện Mỹ Văn. Xã Nghĩa Trụ thuộc huyện Mỹ Văn tỉnh Hải Hưng.

Ngày 24 tháng 7 năm 1999 tỉnh Hưng Yên được tái thành lập, xã Nghĩa Trụ lại trở về huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.

Trong quá trình quy hoạch hành chính, địa giới Nghĩa Trụ có nhiều thay đổi như việc chia tách các làng lớn thành nhiều đơn vị nhỏ như làng Hoa Cầu sau này được chia tách thành 3 thôn Tam Kỳ, Lê Cao, Phúc Thọ, làng Bảo Vực thành 11,12,12,14. Các làng Khúc Lộng, Vĩnh Bảo được cắt về xã Vĩnh Khúc. Riêng giữa hai làng Đồng Tỉnh và Hoa Cầu cũng có nhiều sự điều chỉnh thay đổi về địa giới so với khi mới bắt đầu hình thành và có tên gọi.



TOP


TOP

Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2) LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ


TIỂU DẪN:

Xét lịch sử của một làng quê Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển của một vùng đất, xét lịch sử vùng đất ấy qua những biến đổi thăng trầm của một quốc gia, một thời đại (giai đoạn mà quốc gia đó tồn tại). Dòng chảy sự kiện lịch sử luôn song hành cùng sự tồn tại của một quốc gia. Xét các sự kiện lịch sử theo khái niệm khoa học thì lịch sử của nó chính là thời gian mà sự việc, hiện tượng của dữ kiện cần xét đã từng xuất hiện và từng tồn tại mà ta phải nhìn nhận nó như khi nó đang tồn tại. Làng Đồng Tỉnh và làng Hoa Cầu cũng vậy, lịch sử tồn tại và phát triển của hai làng luôn gắn liền với sự phát triển của vùng đất Nghĩa Trụ trên mọi phương diện văn hoá, kinh tế, xã hội, quân sự và nhân văn.

Muốn tìm hiểu một cách sâu sắc và triệt để về lịch sử của làng Đồng Tỉnh, Xuân Cầu phải bắt đầu từ lịch sử của vùng đất đã từng và vẫn đang dung chứa nó, ở đây chính là vùng đất Nghĩa Trụ và con sông Nghĩa Trụ (Sông Tế Giang) trải hàng ngàn năm luân chuyển phù sa đắp bồi kiến tạo mà thành, và muốn tìm hiểu lịch sử phát triển của vùng đất Nghĩa Trụ ta phải bắt đầu từ lịch sử của những con người đầu tiên tạo lập nên vùng đất.



Hiện nay đền Khúc Lộng - Vĩnh Khúc còn thờ Triệu Quang PhụcTriệu Quang Phục:
Triệu Việt Vương (chữ Hán: 趙越王; ?-571), tên thật là Triệu Quang Phục (趙光復), là vua Việt Nam cai trị từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.
, song trong phần này, vì các dữ liệu và di tích dạng văn bản của sự kiện Triệu Quang Phục lập căn cứ không thấy ghi lại những dữ kiện lịch sử liên quan đến hai làng cổ Đồng Tỉnh - Xuân Cầu (dù thôn Khúc Lộng một thời gian dài vẫn thuộc tổng Xuân Cầu), nên người viết chỉ có thể dựa vào những dẫn chứng được ghi lại trong các cuốn quốc sử để mô tả, khớp ráp lại một phần lịch sử hình thành của hai làng nhằm đưa lại những thông tin thiết thực và chính xác nhất giúp cho chất lượng cuốn sách được đảm bảo, và để người đọc khỏi bỡ ngỡ, trong các phần tiếp theo, tác giả xin được phép đi sâu hơn vào các chi tiết lịch sử có liên quan biện chứng tới diễn tiến lịch sử của hai làng bắt đầu từ thời hậu Lý Cao TôngLý Cao Tông:
(chữ Hán: 李高宗, 1173–1210) là vị vua thứ bảy của nhà Lý, cai trị từ năm 1176 đến năm 1210.
Tượng thờ vua Lý Cao-Tông
và nhân vật lịch sử Trần Tự KhánhTrần Tự Khánh:
(陳嗣慶, 1175 - 1223) là tướng nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, người có công đặt nền móng cho sự thay thế ngôi nhà Lý của nhà Trần. Ông người Tam Đường, phủ Long Hưng, tỉnh Thái Bình, Việt Nam.

Theo phả hệ họ Trần, Trần Tự Khánh là con thứ của Trần Lý, em của Trần Thừa - người sau này trở thành thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần - và Trần Thị Dung. Tuy nhiên theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Tự Khánh là em của Trần Thừa và là anh của Trần Thị Dung. Cuốn sử này không ghi rõ năm sinh của ông.
, người đã có công xây dựng, phát triển vùng đất này.






 ❧ ❀ ❧

Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2.2) LẠI LINH VÀ CÔNG CUỘC TÁI THIẾT KHU CĂN CỨ NGHĨA TRỤ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết


2. LẠI LINH VÀ CÔNG CUỘC TÁI THIẾT KHU CĂN CỨ NGHĨA TRỤ

Lại Linh được giao đảm trách việc khôi phục và tái thiết căn cứ Nghĩa Trụ, việc đầu tiên là chiêu mộ dân lưu tán từ các vùng đất lân bang, nhưng công việc này thật phức tạp và khó khăn gấp bội lần như ông hằng nghĩ. Dân Nghĩa Trụ xưa chủ yếu sống bằng nghề chài lưới và cuộc sống bám vào các cửa sông lớn theo mùa nước, đất đai trồng cấy chỉ được một vụ mà còn bấp bênh như đánh bạc với trời bởi nạn lụt lội vào mùa mưa bão, nước từ thượng nguồn sông cái đổ về, dâng cao vượt mặt đê, cả lộ Tế Giang thành đầm chứa nước mênh mông. Dân cư sống nhờ nghề nông chỉ chiếm một phần nhỏ, độ đôi mươi nóc nhà nơi những gò cao khả dĩ tránh được nạn lụt lội vào mùa nước lũ. Khi Trần Tự Khánh chọn nơi đây làm căn cứ quân sự, khai hoá mở rộng đất đai, mộ dân lập ấp, trước kia dân cư sinh sống ở đây chủ yếu là gia quyến của đám binh lính dưới trướng, dân từ các lộ lân cận đổ về làm ăn buôn bán thông thương khá nhộn nhịp, sau khi Đoàn Thượng hợp binh cùng triều đình đánh lén, Trần Tự Khánh phải bỏ Tế Giang về Quốc Oai lập căn cứ, vùng đất Nghĩa Trụ bị quân của Đoàn Thượng tàn phá nặng nề, sự tàn sát trả thù của người lộ Hồng khiến cho vùng đất trù mật Nghĩa Trụ trở thành vùng đất chết, dân Nghĩa Trụ lâm vào thảm trạng bi ai, li tán kẻ sống sót phải tha phương cầu thực đi kiếm ăn các nơi.

Trước tình trạng như vậy, việc tổ chức củng cố lại cơ cấu hành chính và công tác mộ dân lập ấp, khai hoang phục hoá, và trị thuỷ là công việc thiết yếu, được Lại Linh hết sức chú trọng. Ông chủ trương dồn sức cho công việc khơi thông, nạo vét dòng chảy sông Nghĩa Trụ tạo điều kiện thoát nước tiêu úng nhanh cho các vùng đất vừa được khai phá có thể đi vào trồng cấy, cho phép dân tứ xứ kéo đến ngụ cư và kêu gọi dân bản địa trở về làm ăn sinh sống bằng cách xuất 3 tháng lương thực trong kho quân lương giúp đỡ mỗi hộ dân cư mới đến lập nghiệp ổn định cuộc sống. Bản thân ông cũng mang toàn bộ gia quyến về ra sức cùng dân binh khai hoang khẩn hoá lập thành những điền trang. Căn cứ vào địa giới trước kia, ông tổ chức lại bộ máy hành chính trên đất Nghĩa Trụ thành trại ấp, Hoa Cầu và Đồng Tỉnh, Bảo Vực...

Đất Hoa Cầu là nơi đóng quân doanh của thuỷ quân với các xưởng quân đóng mới và sửa chữa thuyền bè, cung cấp cho nội phủ và các cánh quân đang chinh chiến, đồn trại trên các vùng đất khác. Đồng thời Hoa Cầu cũng có thể được coi như một trường huấn luyện quân thuỷ đặc biệt với địa hình khá nhiều kênh rạch tự nhiên phù hợp cho công việc huấn luyện và cung cấp cho toàn quân những toán quân thuỷ tinh nhuệ được chọn lọc, chiến đấu thuần thục trên các địa bàn đồng bằng và đầm lầy ở các lưu vực sông.

Đất Đồng Tỉnh có địa thế bằng phẳng, tương đối cao với các gò bãi được coi là trung tâm của căn cứ Nghĩa Trụ, trong con mắt của nhà tổ chức, Lại Linh chọn làm nơi đóng trị sở, hành cung với các trại quân doanh san sát, đây là nơi tập kết và huấn luyện quân bản bộ rất ưu việt.


Trên đất Đồng Tỉnh, có nhiều đầm nước tự nhiên, tất cả đều rất sâu và có mạch ngầm thông ra sông nhánh Nghĩa Trụ, nên nước trong đầm không bao giờ cạn, và là môi sinh thuận lợi cho các loại cá tôm nước ngọt phát triển quanh năm.

Dân cư lưu trú quanh các đầm nước này khá đông đúc, họ đời sống phát triển theo phương thức săn bắt tôm cá trên đầm và trồng cấy trên các dải ruộng cao, khi các cánh quân của triều đình tiến từ kinh sư hội thuỷ binh trên đoạn Thiên Mạc rồi chia hai mũi tiến quân, một nhánh qua cửa Xuân Quan xuôi về, một cánh qua cửa Đông đất Siêu Loại hợp binh cùng cánh quân của Đoàn Thượng từ vùng Hồng ngược theo sông Khoái tràn về cướp phá, triệt hạ, những người dân sống ở đây nhờ thông thổ địa hình và nhờ vào các lạch nước dày đặc giữa rừng lau sậy um tùm mà lánh lấp, thoát nạn. Khi quân triều đình kéo đi, họ lại trở về sinh sống, gây dựng lại điền trang gia sản.

Để đưa dân binh dần ổn định cuộc sống, Lại Linh chia các thuộc hạ thân tín đi cai quản, khai phá thêm các vùng đất mới, mở rộng lãnh địa về hướng Tây – Tây nam của căn cứ, đồng thời ra các lệ mới trong toàn quân như không được cướp phá hoặc khai thác tranh chấp xâm hại các sản vật của dân bản xứ, không được cướp đoạt những vùng đất đai đã có chủ sở hữu, mỗi hộ dân binh khi có thêm xuất đinh đều được hưởng thêm những phần ruộng đất ưu đãi, được cấp lương ăn cho bà mẹ… v.v. nhờ vậy dân lưu tán các nơi nườm nượp kéo về lập nghiệp sinh sống, sản xuất phát triển, thóc lúa tích trữ đầy các kho đụn, quân số nhờ vậy tăng trưởng không ngừng. Trên vùng đất Đồng Tỉnh trước kia chỉ có vài mươi nóc nhà dân, với dăm dòng họ chính như Tô, Trần, Phan, Lê… nay nhờ chính sách mới của Lại Linh mà tăng thêm rất nhiều.

Lại Linh có vóc người nhỏ nhắn, linh hoạt, theo Trần Tự Khánh từ những ngày họ Trần mới dấy binh, gia đình vốn thạo nghề đánh bắt cá và canh tác nông nghiệp ở xứ Nghĩa Trụ, ngay thuở nhỏ đã thạo thông sông nước, thường cùng cha lênh đênh trên các cửa sông lớn, làm nghề hạ bạc, sau lớn lên cầm đầu một số dân phiêu tán tụ tập nhau đi đánh cướp của cải các nhà giàu có trong các xứ lân bang. Sau đôi lần chạm trán cùng cánh quân của Trần Tự Khánh trên sông Thiên Mạc, đã tình nguyện đem quân phò tá và được Tự Khánh thu phục trọng đãi, trở thành một cánh tay đắc lực của Tự Khánh, trong công cuộc khai khẩn và xây đắp khu căn cứ Nghĩa Trụ của Trần Tự Khánh và gia tộc Trần hương Tức Mặc, ông là người có công lớn trong việc thuyết phục, phân tích và gợi ra được vai trò của vị trí chiến lược tối quan trọng trên vùng đất Nghĩa Trụ với Tế Giang và với kinh thành.



 ❧ ❀ ❧

3. ĐỒNG TỈNH - HOA CẦU VÀ CÔNG CUỘC KHAI ĐIỀN TẠO THỔ CỦA LẠI LINH

Giữa vùng lau sậy um tùm, vùng đất Nghĩa Trụ nổi lên như một con mãnh xà đang vươn mình quay đầu theo vòng cung Đông bắc; Tây nam, trung tâm của doi đất hình đầu mãnh xà này là ấp Đồng Tỉnh, nơi có những đầm nước nổi tiếng nhiều cua cá và không bao giờ cạn, được Lại Linh chọn đóng làm trung tâm lị sở và phát triển các trại quân doanh theo 3 hướng đều nhau trong sơ đồ chữ tỉnh (#), (tên gọi Cửu Tỉnh bắt đầu có từ đây), và vị trí lị sở, cùng hành cung của Lại Linh đặt tại khoảng trung tâm giữa hai doanh trại quân doanh thuỷ bộ, phát triển theo hướng Đông bắc là thuỷ trại Hoa Cầu, xuôi dòng sông Nghĩa Trụ xuống mạn Tây nam là khu vực huấn luyện quân bản bộ Bảo Vực, hướng Tây là rừng lau lách với các lạch chảy tự nhiên hình thành nên những thửa ruộng mà mỡ sau mùa nước lũ.

Ấp Cửu Tỉnh với nhiều dòng họ được chia quản lý theo các khoảnh ruộng thành từng đơn vị nhỏ tương đương các xóm ấp như, Hổ, Xá, Đình, các ấp đều có những đội quân dân binh được tập luyện chính quy nhằm tăng khả năng tự vệ và cung cấp nhân mạng cho các chiến trường sau này. Trong kiến trúc cơ sở theo sơ đồ chữ Tỉnh, Lại Linh đặc biệt chú ý chia các địa giới theo các doi đất tự nhiên, phù hợp địa thế và phong thuỷ, rất thuận tiện cho việc phối hợp tác chiến ứng cứu giữa các cánh quân và dân binh, giữa thủy binh và bộ binh, đảm bảo giao thông từ trung tâm tới các quân doanh hết sức cơ động và cơ hội tiếp cận với trung tâm thuận tiện ngang bằng nhau.

Từ điểm cao nhìn xuống đất Cửu Tỉnh, gồm năm xóm ấp toạ trên 5 doi đất tụ lại như hình hài của bầy chiến mã đang phục quỳ chầu vào trung tâm, xét theo mặt phong thuỷ thì những doi đất này ví như những bước tường thành tụ khí tàng phong cho ngôi đất chủ, những đầm nước có mạch ngầm thông với nhau tạo thành nhiều thần long che kín, bảo vệ cho long mạch chủ tụ khí tích thuỷ mỗi ngày thêm vượng phát. Nơi đóng trị sở và hành cung của Lại Linh, trước khi bị quân triều đình và quân Đoàn Thượng triệt hạ, thì đất Cửu Tỉnh vẫn được Trần Tự Khánh chọn làm nơi đặt trị sở điều tiết quân cơ.

Trong quy mô triển khai chiến lược lần này, căn cứ Nghĩa Trụ và trị sở Cửu Tỉnh được Trần Tự Khánh và các bộ tướng nhận định có tầm chiến lược trọng yếu liên quan đến vận thế đại cục, nên việc gìn giữ và xây dựng lâu dài căn cứ này là yếu tố sống còn, bổ trợ tiềm lực quân sự cho công tác phát triển các chiến trường chinh phạt và bành trướng thế lực, căn cứ quân sự này có tiềm năng đối trọng khống chế toàn bộ triều đình. Lần tái thiết này là hành động khẳng định rất rõ quan điểm của Trần Tự Khánh với triều đình, không còn e dè, cả nể, rất quyết đoán và cũng là lời thông báo cáo buộc sự bạc nhược, kém tài của vị vua đương triều Lý Huệ Tông trước trăm quan và thiên hạ.

Căn cứ Nghĩa Trụ với đại quân doanh thuỷ bộ ra sức chiêu tập và huấn luyện quân cơ cho các tướng suý và dân quân binh, thành sức ép lớn với triều đình và đặc biệt với thế lực của bà thái hậu khiến vua tôi nội triều ngày đêm nơm nớp lo sợ, nó như mũi tên tẩm độc chĩa thẳng vào nhân thân các vị thân vương và ngay cả bản thân vị vua đương triều vừa thức giấc trên chiếc giường chính trị đã ruỗng mọt cũng không tránh khỏi cảm giác ám ảnh đe doạ. Lại thêm tin tức cấp báo ở các chiến trường không ngớt bay về báo thảm tin khiến ông vua bạc nhược đành phải lựa chọn phương án trốn khỏi hành cung, rời bỏ kinh sư để tìm nơi nương náu tạm thời ru mình và ru trăm quan trong giấc mộng đầy ảo tưởng rằng một ngày kia, khi các cánh quân hợp lực đồng lòng cùng triều đình và thái hậu thì việc tảo thanh quân của Trần Tự Khánh chỉ là ngày một ngày hai. Những căn cứ quân sự của Trần tộc mọc lên và phát triển bành trướng mỗi ngày một rộng lớn như chiếc mụn bọc lâu ngày trong cơ thể triều đình vốn dĩ đã kiệt quệ không còn sức đề kháng là chiếc nhiệt kế đo nhiệt độ của cái cơ thể bắt đầu chết dần từng phần của triều đình nhà Lý khi ấy.

Căn cứ Nghĩa Trụ phát huy được trọn vẹn tác dụng của nó, tuy góp phần làm lung lay tinh thần của đám quan lại, thân vương huý tử tham sinh. Nhưng với một trận đánh mang tính quyết chiến trên diện rộng của các thế lực sau khi đã hợp tụ được lại như lần hợp binh đánh lén lần trước của quân triều đình và quân của Đoàn Thượng thì căn cứ Nghĩa Trụ vẫn chưa đủ tầm để kháng cự lâu dài. Là vị tướng dày dạn trận mạc, biết rõ thực lực của quân mình tuy mạnh nhưng vẫn chưa đủ đông để đáp ứng cho nhu cầu bảo toàn, cai trị các vùng đất vừa chinh phục được. Một mặt Tự Khánh tiếp tục lệnh cho Lại Linh đốc thúc tiến hành nhanh công cuộc tái thiết mở rộng địa bàn, ổn định dân sinh và lương thực cung cấp cho toàn quân, tạm thời dưỡng binh chờ cơ tung quân đánh những trận lớn. Một mặt ông ra sức điều đình dàn hoà với triều đình, lường tránh mọi khả năng bất lợi nhất có thể xảy ra cho các cánh quân của mình.

Bằng hành động của con mèo già trước con mồi vừa bắt được, không vội vàng nghiến ngấu cắn xé, cứ nhẩn nha tung thả vồ bắt, khiến đối phương rã rượi tinh thần, mất hết phản xạ trốn chạy vì khiếp đảm, hoặc giả có còn chút sức lực để guồng chân trốn chạy giữa cuộc chơi, thì những phản xạ chạy trốn ấy cũng là vô thức, phản ánh lại tình trạng tuyệt vọng đến cùng cực của con mồi.

Để vuốt ve tính tự mãn, tự cao của đối phương, Trần Tự Khánh tự cắt tóc mình và sai người dâng cho nhà vua và tâu rõ ý mình: "Tôi thấy bọn tiểu nhơn ở cạnh vua, chúng che lấp ngăn cản các bậc trung lương, dân tình thì uất ức không biết theo đâu mà chuyển đạt thấu lên trên. Cho nên nhân đó mà (tôi tụ họp) người trong nước khởi binh đánh bọn này, cắt bỏ gốc rể của sự hiểm họa để làm yên lòng dân. Và, đến phận mệnh của vua tôi thì không dám một tí xúc phạm,lại há có cái ý quá ỷ vào việc chăm đánh dẹp đó hay sao! Chẳng ngờ là tôi đã khiến cho xa giá phải lẫn tránh chỗ khác. Tôi tự lượng biết thân tôi. Tội tôi thật đáng muôn chết. Xin bệ hạ hãy tạm nguôi cơn giận mà đưa xa giá trở về kinh sư". Một mặt Trần Tự Khánh lại sai Đàm Kinh Bang đốc xuất trăm quan chuẩn bị pháp giá để đón vua trở về kinh.

Hành động vờn vỡ của Trần Tự Khánh giống như một sợi dây quẳng ra giữa dòng nước xiết để cho vua tôi triều Lý lăn xả vào bám víu. Chỉ bằng một hành động dâng tóc, một câu nói hoà hoãn tỏ ý thần phục tung ra đúng thời điểm, đã bóp vỡ mọi ý chí kháng cự của vua tôi triều đình nhà Lý. Nhà vua muốn theo về, quần thần đều mừng rỡ. Nhưng vẫn là chữ “nhưng” đầy trắc ẩn, rất may hoặc không may cho đám người mệt mỏi bạc nhược mất hết tinh thần sau những chặng đường dài ròng rã hộ giá bên vua, trong đám lếch thếch ấy vẫn còn một cái đầu tương đối sáng suốt, quả cảm đã một mực ngăn cản bẻ gãy mọi ý định của vua bằng những hành động cương quyết – Thái hậu Đàm thị, với uy quyền và thế lực của mình trong hoàn cảnh ngặt nghèo này vẫn có thể dẫn đạo được đám người đang hoang mang mất phương hướng trên cuộc lữ hành vô định.

Ở căn cứ Nghĩa Trụ, Lại Linh tranh thủ cơ hội hoà hoãn tập trung mọi khả năng thiên bẩm của mình cúc cung tận tuỵ hướng đạo quân sĩ một lòng luyện tập, sản xuất khí cụ, lương thực tích trữ. Trong quân doanh lúc nào cũng nhộn nhịp bóng người vào ra thưa bẩm, tiếng quân reo tập trận, ngoài cánh đồng, đầm nước tiếng gõ chèo đuổi cá vang khắp các đầm nước, tiếng dân binh í ới gọi nhau chuẩn bị nông cụ ra đồng, tiếng lưỡi mác phạt lau sậy mở rộng diện tích canh tác ràn rạt tiến sâu dần vào rừng lau sậy. Xóm ấp ngày thêm trù mật, trẻ con nô đùa quanh các trại quân. Một không khí thanh bình hiếm có giữa thời buổi loạn li, báo hiệu vùng đất Cửu Tỉnh và xứ Nghĩa Trụ đang chuyển mình vươn tới sự phát triển đỉnh cao.



Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2.4) SỰ PHÁ SẢN CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỒNG LOẠT CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ




4. SỰ PHÁ SẢN CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỒNG LOẠT CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ

Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2.5) CĂN CỨ NGHĨA TRỤ VỚI VAI TRÒ KẾT THÚC CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG QUYỀN LỰC TRÊN DIỆN RỘNG CỦA TRẦN TỰ KHÁNH


Chương II LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ




5. CĂN CỨ NGHĨA TRỤ VỚI VAI TRÒ KẾT THÚC CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG QUYỀN LỰC TRÊN DIỆN RỘNG CỦA TRẦN TỰ KHÁNH

PHẦN 2 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TRẦN


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



PHẦN 2 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TRẦN


PHẦN 3 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TIỀN LÊ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ




PHẦN 3 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TIỀN LÊ

PHẦN 4 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI KỲ NHÀ NGUYỄN


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



PHẦN 4 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI KỲ NHÀ NGUYỄN


PHẦN 5 - GIAI ĐOẠN SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 CHO ĐẾN NAY


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



PHẦN 5 - GIAI ĐOẠN SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 CHO ĐẾN NAY