Xuân Cầu

Saturday, December 30, 2017

Giới thiệu chung

Làng Xuân Cầu là một làng có từ lâu đời ở xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Xuân Cầu, xưa kia còn có tên gọi là Hoa Cầu, Huê Cầu, Xuân Kỳ. Làng có từ đời nhà Đường, trong làng còn có 4 giếng đá kiểu Trung Quốc. Đời vua Thiệu Trị, vì kỵ húy đổi là Xuân Kỳ nhưng nhân dân quen dùng tên cũ, mà đọc chệch đi là Huê Cầu. Làng có nghề nhuộm thâm từng đi vào ca dao cổ tích, và món đặc sản là bánh mỡ nổi tiếng. Nhưng gần đây đã thất truyền và trong làng, những di tích xưa cũng không còn.

Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền.

 


Đặc sản:

Bánh Xuân Cầu

Bánh Xuân cầu là loại bánh rán mỡ thường được dùng rất phổ biến tại miền Bắc xưa kia, nay đã mai một [2]. Bánh vuông bằng hai ngón tay và mỏng như tờ giấy bản, được bỏ vào chảo chiên phồng, nở phồng với nhiều màu sắc tươi đẹp, ăn với mật ong, có vị ngọt, béo, bùi và thơm [2].

Vải thâm Xuân Cầu

Theo truyền thuyết thì nghề nhuộm vải thâm ở Huê Cầu (Xuân Cầu) cũng có ngót nghét 2.000 năm [1]. Thuốc nhuộm là củ nâuCủ nâu - Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu - Dioscoreaceae.

Mô tả: Dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn. Hoa mọc thành bông. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh.

Bộ phận dùng: Củ - Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae, thường có tên là Thự lương.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Là cây thường dùng để nhuộm vải lưới cho có màu nâu bền. Cũng dùng để thuộc da. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng. Củ nâu dọc trai dùng nhuộm tốt hơn.

Thành phần hoá học: Củ chứa nhiều tanin catechic (đến 6,4%) và có tinh bột.

Tính vị, tác dụng: Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết, cầm ỉa.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngoài việc dùng để nhuộm. Củ nâu có thể dùng ăn. Người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn. Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ. Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa: 1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh; 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.
, đun trong nước lá sòiSòi - Sòi, Sòi xanh - Sapium sebiferum (L.) Roxb., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Mô tả: Cây gỗ rụng lá cao 6-15m. Lá mọc so le, hình quả trám, dài 3-7cm, chóp lá thuôn nhọn, cuống lá dài có tuyến. Hoa đơn tính, màu trắng vàng hay vàng, mọc thành bông ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa cái nhiều, ở gốc, hoa đực ở trên. Hoa đực có đài hình đầu phân thuỳ hoặc có răng, nhị 2, bao phấn gần hình cầu. Hoa cái có đài hợp, 2-3 thuỳ và nhuỵ 3, bầu hình trứng có 3 ô. Quả hạch hình cầu có 3 hạt.

Cây ra hoa tháng 6-8, quả tháng 10-11.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá, hạt - Cortex Radicis, Cortex et Folium Sapii Sebiferi. Vỏ rễ thường có tên là Ô cữu căn bì

Nơi sống và thu hái: Cây của Ðông Á châu ôn đới và cận nhiệt đới, mọc hoang ở vùng đồi núi. Có khi được trồng làm cây cảnh. Thu hái vỏ rễ và vỏ cây quanh năm, thái nhỏ và phơi khô. Lá thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Vỏ rễ chứa xanthoxylin, acid tanic.

Tính vị, tác dụng: Sòi có vị đắng, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng sát trùng, giải độc, lợi niệu, thông tiện, tiêu thũng, trục thuỷ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa:
1. Phù thũng, giảm niệu, táo bón;
2. Bệnh sán máng, cổ trướng, xơ gan;
3. Viêm gan siêu vi trùng;
4. Ngộ độc nhân ngôn;
5. Rắn độc cắn.

Thân và lá dùng chữa viêm mủ da, ngứa lở thấp chẩn, chai cứng. Dùng vỏ rễ 3-6g, lá 9-15g, đun sôi lấy nước uống. Giã lá tươi để đắp ngoài, hoặc nấu nước để rửa.

Ở Vân Nam (Trung Quốc) còn được dùng trị tiểu tiện không thông, viêm âm đạo.

Ðơn thuốc:
1. Phù thũng, Rễ Sòi tươi, lấy màng thứ nhì 15g, đường 15g, đun sôi lấy nước uống.
2. Bệnh sán máng: Lá Sòi 8-30g, sắc uống. Dùng liền trong 20-30 ngày.
3. Phù thũng, cổ trướng, đại tiện không thông, ứ nước hoặc bí đầy, ăn uống không xuôi: Màng rễ Sòi (lớp trắng ở trong), Mộc thông, hạt Cau, mỗi vị 12g, sắc uống.
4. Ngộ độc: Lá Sòi 1 nắm giã nhỏ, chế nước vào, vắt lấy nước cốt uống.
(một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải có mầu đen thâm, không phai và tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí [1].


Danh nhân Làng Xuân Cầu

Làng Xuân Cầu còn có nhiều Danh nhân như: Họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà cách mạng Tô Hiệu, nhà cách mạng Lê Văn Lương.

Tham khảo

  1. Vải nhuộm thâm làng Huê Cầu
  2. Vũ Bằng - Miếng ngon Hà Nội, bánh Xuân Cầu
  3. Thịt chuột ký sự
  4. Đặc sản bánh Xuân Cầu của làng đã bị mai một



Mời xem các bài về Xuân Cầu



Video Làng Xuân Cầu


Truyền hình Hưng Yên - HYTV




Ngô Quang Huy

Saturday, December 16, 2017


Ngô Quang Huy - 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam

_ Vũ Thanh Sơn _

.

Hội thảo khoa học "Đồng chí Tô Hiệu với cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên"

Monday, November 20, 2017

Tin, ảnh: TTXVN

"Đồng chí Tô Hiệu là người chiến sỹ cộng sản kiên trung mẫu mực, mãi mãi là tấm gương sáng ngời về tinh thần hy sinh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân". Đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu khẳng định tại hội thảo khoa học "Đồng chí Tô Hiệu với cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên", diễn ra ngày 12-10 do Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh ủy Hưng Yên phối hợp tổ chức.
Quang cảnh hội thảo.
Báo cáo đề dẫn tại hội thảo của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Hồng Chương, nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đã đánh giá cao những cống hiến của đồng chí Tô Hiệu tập trung vào các vấn đề gồm: Truyền thống quê hương, gia đình đã góp phần hình thành tư tưởng yêu nước, dẫn dắt đồng chí Tô Hiệu trở thành chiến sĩ cách mạng; Con đường đến với cách mạng, giác ngộ lý tưởng cộng sản, hiến dâng tuổi trẻ cho dân tộc và nhân dân của đồng chí Tô Hiệu; Đồng chí Tô Hiệu thuộc lớp đảng viên đầu của Đảng, có những đóng góp to lớn đối với phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám; Đồng chí Tô Hiệu, tấm gương người cộng sản kiên trung, trọn đời vì sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Nhiều tham luận của các đại biểu, nhà khoa học đã cung cấp những tư liệu quý, giá trị như: "Những hoạt động yêu nước của đồng chí Tô Hiệu tại Hưng Yên và Hà Nội"; "Hoạt động và cống hiến của đồng chí Tô Hiệu trong thời kỳ xây dựng Đảng bộ Hải Phòng"; "Vai trò của đồng chí Tô Hiệu trong khôi phục cơ quan lãnh đạo của Đảng và phong trào cách mạng ở Bắc Kỳ"; "Đồng chí Tô Hiệu với công tác xây dựng tổ chức Đảng trong ngục tù Sơn La"...

Đồng chí Tô Hiệu sinh năm 1912 trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên. Hoạt động cách mạng từ năm 14 tuổi, hy sinh tại nhà tù Sơn La ở tuổi 32, người chiến sỹ cộng sản Tô Hiệu là tấm gương chói lọi về tinh thần phấn đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, vì lý tưởng cách mạng cao đẹp cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Với 32 tuổi đời, 18 năm hoạt động cách mạng, dù 2 lần bị địch bắt tù đày nhưng đồng chí Tô Hiệu vẫn bất khuất kiên cường, "Tinh thần Tô Hiệu" được coi là biểu tượng của ý chí cách mạng, của niềm tin chiến thắng.

Kết luận hội thảo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hưng Yên Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh: những ý kiến tham luận tại hội thảo đều khẳng định đồng chí Tô Hiệu có đóng góp to lớn đối với phong trào cách mạng Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Quê hương Hưng Yên cũng như dòng họ, gia đình có những ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, lòng yêu nước, nhân cách và chí hướng cách mạng của đồng chí Tô Hiệu. Lý tưởng cao đẹp, tinh thần bất khuất, bản lĩnh kiên trung của người chiến sĩ cách mạng Tô Hiệu là tấm gương sáng ngời cho thế hệ sau học tập và noi theo.

Tin, ảnh: TTXVN

Hội thảo khoa học "Đồng chí Lê Văn Lương với Cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên"

Sunday, November 19, 2017

TTXVN

"Đồng chí Lê Văn Lương là một nhà lãnh đạo xuất sắc, là tấm gương đạo đức trong sáng của Đảng và cách mạng Việt Nam, có nhiều đóng góp to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc". Đây là nội dung được khẳng định tại hội thảo khoa học "Đồng chí Lê Văn Lương với Cách mạng Việt Nam và quê hương Hưng Yên" diễn ra ngày 12-10. Hội thảo do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh ủy Hưng Yên phối hợp tổ chức.
Tại hội thảo, các nhà khoa học đã thảo luận, đi sâu làm rõ những hoạt động và cống hiến của đồng chí Lê Văn Lương như: Truyền thống quê hương, gia đình và con đường đến với cách mạng của đồng chí Lê Văn Lương; đồng chí Lê Văn Lương là nhà lãnh đạo xuất sắc, nhà tổ chức tài năng, tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng; những tình cảm của đồng chí đối với quê hương Hưng Yên. Các ý kiến thảo luận đã phân tích rõ đồng chí Lê Văn Lương là một nhân cách lớn, có lý tưởng sống cao đẹp, đồng chí đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Cộng sản, có nhiều cống hiến xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Đồng chí Lê Văn Lương tên thật là Nguyễn Công Miều, sinh năm 1912 trong một gia đình nho học tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ngay từ khi còn trẻ tuổi, đồng chí Lê Văn Lương đã giác ngộ cách mạng và tham gia các hoạt động yêu nước. Đồng chí được Đảng và Bác Hồ giao nhiều trọng trách: Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ, Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Giám đốc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc; Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hà Nội... Đồng chí Lê Văn Lương là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa II, III, IV, V; Ủy viên Bộ Chính trị (khóa II, khóa IV); Bí thư Trung ương Đảng khóa III; là đại biểu Quốc hội khóa VI và khóa VII.

Trong suốt 70 năm cuộc đời hoạt động, đồng chí Lê Văn Lương luôn nêu cao tấm gương của một người Cộng sản mẫu mực, cống hiến hết mình cho công việc với phương châm "nhanh chóng, chính xác, bí mật, an toàn". Đồng chí luôn có tinh thần phê bình và tự phê bình, tác phong dân chủ, quan tâm sâu sắc đến đời sống nhân dân, được nhân dân tin yêu và quý trọng. Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng làm việc với tinh thần tự giác, tận tụy, có trách nhiệm trước Đảng và dân tộc.

Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Đỗ Tiến Sỹ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên khẳng định: Hội thảo giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những hoạt động và cống hiến của đồng chí Lê Văn Lương, làm sáng tỏ hơn về cuộc đời sự nghiệp và tầm vóc cùng những đóng góp to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cũng như đối với quê hương Hưng Yên. Hội thảo sẽ để lại những tư liệu quý để giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, là niềm tự hào, sự cổ vũ động viên đối với Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên. Tự hào là miền quê văn hiến và cách mạng, tỉnh Hưng Yên đang nỗ lực cùng cả nước đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển, thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hưng Yên cũng luôn tri ân những bậc cha anh, những người con ưu tú của quê hương đã góp phần làm rạng danh cho đất nước như đồng chí Lê Văn Lương.

TTXVN

 ✯✯ 




Ngỡ ngàng giếng ngọc nghìn năm

Friday, November 17, 2017

ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NHÃN
Vi Ngoan

Tình cờ biết đến giếng ngọc Tam Kỳ vào một ngày ghé qua làng, dừng chân trước cổng Đồng – tên cổ của cổng làng Tam Kỳ, thấy kỳ lạ sao bên đường một khoảng không gian bỗng nhiên tĩnh lặng...

“Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm”


Câu ca dao nói về làng Xuân Cầu xưa của xã Nghĩa Trụ (Văn Giang), nay đã thành 3 thôn: Tam Kỳ, Phúc Thọ và Lê Cao. Theo thời gian, vật đổi, sao dời, nghề bán thuốc lào, nghề nhuộm vải ở Xuân Cầu đã mai một, những cô hàng xén cũng thưa vắng, đánh rơi mất nụ cười răng đen vào những ngày xưa cũ… Nhưng về Xuân Cầu hôm nay, vẫn sẽ gặp cổng làng sừng sững, cổ kính, rêu phong mà ấm áp nghĩa tình, vẫn được đi trên con đường gạch rộng thênh thênh, nhẵn bóng bước người qua. Và nhất là ngay nơi đầu làng đây, giếng ngọc của làng vẫn văn vắt xanh trong, in màu của trời, của mây, của những tầng đá xanh bao quanh thành giếng.

Người dân làng Tam Kỳ, xã Nhãi Trụ làm lễ bên giếng Ngọc


Tình cờ biết đến giếng ngọc Tam Kỳ vào một ngày ghé qua làng, dừng chân trước cổng Đồng – tên cổ của cổng làng Tam Kỳ, thấy kỳ lạ sao bên đường một khoảng không gian bỗng nhiên tĩnh lặng. Một chiếc tường nhỏ thâm thấp bao quanh, chính giữa một miệng giếng tròn đường kính cỡ hơn 1m, xung quanh hoa nhài, hoa trạng nguyên, mẫu đơn… đua nhau khoe sắc, tỏa hương. Ôi chao, khi đâu đâu cũng là cảnh nhà nhà san sát, làng dần thành phố mà người Tam Kỳ vẫn gìn giữ, tôn thờ chiếc giếng đào cổ xưa, đẹp đẽ nhường này!. Niềm yêu thích dâng lên, khiến tôi không thể không lần nữa trở lại làng để được thêm tường tận.

Ngày trở lại Tam Kỳ, không hẹn trước mà gặp đúng ngày hội xuân. Cách giếng ngọc không xa, chùa Xuân Cầu vang nhịp trống phách của đoàn nữ tế. Từng xóm, từng xóm, già trẻ, gái trai, ai cũng quần là áo lượt, xếp thành hàng dài, trong lòng ngập tràn thành kính. Trước tiên, đoàn lễ đến bên giếng, như một nghi lễ tôn thờ trước thần giếng, trước mắt rồng, trước hồn của làng, ai ai cũng một lòng chiêm bái. Khi hương hoa đã nghi ngút trên ban thờ trước miệng giếng ngọc, dân làng mới lần lượt theo nhau đội lễ lên chùa, để lại quanh giếng một không gian tĩnh tại, thoảng mùi trầm hương.

Ngồi bên thành giếng, chạm tay vào từng phiến đá xanh mát lạnh, tôi được ông Nguyễn Quang Huy, trưởng thôn Tam Kỳ kể cho nghe những câu chuyện xung quanh chiếc giếng quý của làng. Ông Huy tạm gỡ chiếc lồng sắt bảo vệ miệng giếng ra để người khách phương xa là tôi đây được ngắm hết vẻ đẹp của giếng ngọc nghìn năm. Tôi chầm chậm nhìn xuống tận đáy giếng. Nước trong thế kia, một khoảng trời soi thấu xuống đáy, những nhành dương xỉ và từng đường nét khuôn mặt mình, tôi đều trông rõ dưới bóng nước mát màu ngọc. Tôi buột miệng hỏi ông trưởng thôn: Có phải là giếng hơi nông không? Cháu nhìn như nước chỉ có vài gang tay thôi! Ông cười: Vài gang mà cô nói ấy xưa kia là nguồn nước sạch của cả làng tôi đấy. Mùa mưa, mạch đầy, nước dâng cao tới gần miệng giếng, dùng gáo múc được. Mùa khô, nước xuống thấp như bây giờ đây, nhưng chỉ xuống thấp chứ không bao giờ cạn, cả làng dùng suốt mùa khô hạn mà nước vẫn trong vắt như gầu đầu tiên múc lên vậy! Nước mát, ngọt và lành lắm. Phúc đức cho nhà nào gần giếng, ai cũng khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, con gái tóc mượt dài đen lay láy!. Các cụ trong làng còn truyền lại một vài câu chuyện dân dã mà thần kỳ, như có người đi làm đồng bị cảm nắng, may sao được dân làng dìu đỡ đến bên giếng, múc cho uống một bát nước và lấy nước giếng rửa mặt mà tỉnh được. Rồi có một năm trời nắng hạn như rang, cỏ cây khô héo, ao hồ cạn sạch, người làng nhờ có giếng ngọc này mà qua cơn hạn hán, cứu được vật nuôi, hoa màu, giúp đỡ người dân làng khác… thế mà mực nước trong giếng vẫn không cạn.

Bên giếng Ngọc


Giếng Tam Kỳ đã là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà lịch sử, địa lý trong và ngoài tỉnh. Qua nhiều lần khảo sát, đánh giá, dựa trên cách xây dựng, nguyên liệu, kỹ thuật… gắn với một số di tích của làng, các nhà nghiên cứu đã xác định niên đại của giếng cổ ở Tam Kỳ đến nay là hơn 1.200 năm. Nhà sử học Lê Văn Lan vào năm 2013 về làng Tam Kỳ, khi giếng được trùng tu, khánh thành, đã có lời đề tự rằng đây là nơi “tụ Thủy như tụ Nhân”.

Giếng Tam Kỳ quả là một công trình kỳ bí và độc đáo. Một chiếc giếng đào đơn giản mà không bao giờ cạn nước, mạch nước trong lành, sạch sẽ bốn mùa. Phải chăng được một thầy địa lý tài ba chọn được vị trí đắc địa mới cho nguồn nước tốt đến thế. Ngắm giếng mới thấy, từ cả nghìn năm trước, không một chút vôi vữa, xi măng mà giếng bền bỉ, đẹp đẽ với thời gian. Thành giếng thẳng tắp không tỳ vết, mà kỳ lạ ở chỗ chỉ đơn giản là bàn tay tài hoa của người xưa đã xếp từng viên gạch, từng viên gạch… mà tạo được sự vững vàng đó! Gạch xếp làm giếng là loại “gạch thất”, từng vòng, từng vòng xếp so le nhau. Miệng giếng có 3 tầng đá xanh, không phải đá thường, mà là những chiếc cối đá tròn, cũng khéo léo xếp lên nhau y như xếp gạch vậy. Ngay cả thành giếng cũng là đá xanh nguyên phiến nhẵn bóng và mát lạnh theo thời gian. Ông trưởng thôn còn chỉ cho tôi những vết dây gầu múc nước, đời nối đời, mài lên thành giếng, kéo từng gầu, tạo thành nhiều vệt lõm bóng mịn.

Giếng ngọc của làng còn gắn với di tích Quán Dố - một ngôi miếu cổ, thờ Ma lỗ Đại vương. Theo lệ làng, cứ đến tháng Sáu âm lịch, dân làng tổ chức lễ rước nước từ giếng ngọc về Quán Dố để cầu mưa. Khi ấy, các cụ cao niên trong làng sẽ khăn áo chỉnh tề, trai tráng thì vác kiệu, vác lọng, bê ché ra trước giếng, xin Thần giếng cho nước thiêng về thờ tại Quán Dố, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Thế nên sau này dù có một khoảng thời gian bị vùi lấp, rồi đến ngày nay, dù nước giếng không được sử dụng để ăn uống như xưa nhưng người làng Tam Kỳ vẫn luôn quý trọng giếng như bảo vật của làng. Khi tôn tạo lại giếng vào năm 2012, dân làng Tam Kỳ người góp đất, người góp công, người góp tiền… giữ cho giếng một khoảng trời riêng bên cổng làng, để quanh giếng luôn là sắc hương của hoa tươi bốn mùa. Năm 2016, Quán Dố cũng được tôn tạo. Bắt đầu từ tháng Sáu âm lịch năm nay dân làng sẽ khôi phục lại lễ rước nước, cầu mưa, thật kỳ vọng sẽ được trở lại nơi đây vào ngày lễ đặc biệt của giếng ngọc nghìn năm này.

Trước khi rời Tam Kỳ, tôi vẫn lưu luyến ngắm nhìn giếng ngọc thêm một lần. Có chú chim sâu nho nhỏ lích tích nhảy bên bờ giếng, soi cái bóng bé xinh của mình xuống gương nước, hạt nắng cuối ngày vô tình buông xuống, hắt lên thứ ánh sáng dìu dịu như màu ngọc thạch… Mong rằng vẻ đẹp này, công trình cổ xưa và quý giá này sẽ luôn được người dân, chính quyền địa phương trân quý bảo tồn, để những lữ khách gần xa và cả con cháu đời sau càng thêm hiểu, thêm yêu quý và tự hào.

Vi Ngoan

Nguồn: "baohungyen.vn" - 25/04/2017, 11:08 [GMT+7]

Giải mã bí ẩn giếng ngọc 1.200 tuổi tại Hưng Yên


Người dân thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ (Văn Giang - Hưng Yên) cho rằng, sử dụng nước giếng ngọc hơn 1.200 tuổi khiến ai cũng khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, con gái tóc mượt dài và đen như gỗ mun.



Những câu chuyện lạ kỳ

Thôn Tam Kỳ (Xuân Cầu), xã Nghĩa Trụ (Văn Giang - Hưng Yên) được nhiều người biết đến bởi là quê hương của nhà cách mạng, liệt sĩ Tô Hiệu - Tô Chấn. Trên mảnh đất địa linh nhân kiệt này, người dân thôn Tam Kỳ mới khôi phục được hai chiếc giếng ngọc có niên đại hơn 1.200 năm tuổi.

Về Tam Kỳ, chúng tôi dừng chân trước cổng làng cổ kính rêu phong. Nhìn sang phải thấy một chiếc giếng có đường kính khoảng 1m. Đây chính là giếng ngọc mới được dân làng khôi phục lại.

Chúng tôi không khỏi tò mò bước đến gần. Nước giếng xanh trong, in màu của trời, của mây, của những tầng đá xanh bao quanh thành giếng. Phía trên có bia giếng ngọc "Cổng Đồng". Bàn thờ vẫn đang nhả khói hương nghi ngút.


Chiếc giếng ngọc hơn 1200 năm tuổi tại thôn Tam Kỳ. (Ảnh: Kim Thược)



Thấy tôi tò mò ngắm nghía chiếc giếng cổ, ông Nguyễn Quang Huy (SN 1962) - Trưởng thôn Tam Kỳ lên tiếng:
"Xưa kia, giếng này là nguồn nước sạch của cả làng Xuân Cầu. Mùa mưa, mạch đầy, nước dâng cao tới gần miệng giếng nên có thể dùng gáo múc được.

Mùa khô, nước xuống thấp hơn, nhưng chỉ xuống thấp chứ không bao giờ cạn. Cả làng dùng suốt mùa khô hạn mà nước vẫn trong vắt như gầu đầu tiên múc lên. Nước mát, ngọt nên nhà nào sử dụng nước giếng cũng khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, con gái tóc mượt dài đen như gỗ mun".


Ông Nguyễn Quang Huy bên chiếc giếng cổ hơn 1200 năm tuổi. (Ảnh: Kim Thược)



Ông Huy còn cho biết, các cụ trong thôn Tam Kỳ còn truyền tai nhau những câu chuyện kỳ lạ xung quanh chiếc giếng cổ này. Người ta kể rằng, có người đi làm đồng bị cảm nắng, được dân làng dìu đến bên giếng, rửa mặt bằng nước giếng và múc nước giếng cho uống. Người này dần mở mắt tỉnh lại. Rồi có một năm trời nắng hạn, cỏ cây khô héo, ao hồ cạn sạch. Duy chỉ có giếng ngọc không lúc nào cạn đã giúp người dân Tam Kỳ vượt cơn hạn hán.

Giải thích về những câu chuyện kỳ lạ về chiếc giếng, ông Huy cho hay:
"Nhiều người không hiểu cho rằng mê tín dị đoan. Nhưng tôi nghĩ có gì lạ khi một người bị cảm do làm việc quá sức có hớp nước mát uống thì tỉnh táo là điều dễ hiểu.

Quan trọng nước ở giếng ngọc này sạch, không ô nhiễm nên dùng nước này để ăn uống sẽ ít bệnh tật, tắm rửa da không mụn nhọn, gội đầu tóc sẽ mềm mại. Chẳng phải bây giờ nhiều người mắc ung thư hay cá chết hàng loạt cũng một phần là do nguồn nước bị ô nhiễm? Những câu chuyện truyền tai nhau là để con cháu Tam Kỳ trân trọng nguồn nước sạch và quý hiếm".


Chiếc giếng ngọc của thôn mới được trùng tu nên hiện tại người dân chưa sử dụng. (Ảnh: Kim Thược)




Hai mắt thần và con số 7 bí ẩn

Lời đồn quả không sai, chiếc giếng Tam Kỳ quả là một công trình độc đáo. Giếng đào thủ công và chưa bao giờ cạn nước. Mạch nước trong lành, sạch sẽ bốn mùa do chọn được vị trí đắc địa cho nguồn nước tốt.

Quan sát kĩ giếng sẽ thấy, giếng được đào từ cả nghìn năm trước, người dân chỉ dùng những viên gạch xếp chồng lên nhau không chút vôi vữa vậy mà miệng giếng vẫn tròn, đẹp và không hề bị xuống cấp theo thời gian.


Còn chiếc giếng cổ hơn 1300 năm tuổi này vẫn được một gia đình trong thôn sử dụng. (Ảnh: Kim Thược)


Ông Đặng Xuân Chính (SN 1953), một người dân ở Tam Kỳ cũng là người sưu tầm nhiều thông tin và hình ảnh về giếng ngọc thôn Tam Kỳ cho biết, những viên gạch làm thành giếng là loại "gạch thất", từng vòng xếp so le nhau. Miệng giếng có 3 tầng đá xanh, không phải đá thường, mà là những chiếc khối đá tròn, cũng xếp lên nhau y như công thức xếp gạch. Ngay cả thành giếng cũng là đá xanh nguyên phiến nhẵn bóng.

Nói về lối xếp "gạch thất", ông Chính giải thích:
"Gạch làm thành giếng có chiều dày 7cm, chiều ngang 17cm và dài là 27cm. Còn các khối đá tròn úp phía trên giếng được làm thủng, chiều cao của khối đá là 17cm, đáy 27cm và miệng cối đá úp xuống là 37cm.

Tại sao các cụ lại lấy con số 7 thì đến giờ chúng tôi chưa lý giải được. Chỉ biết, khi lắp vào thì rất là khít. Dù không có vôi vữa, chỉ xếp các viên gạch, viên đá vào nhau nhưng đã tạo được sự vững chắc. 1.200 năm tuổi, giếng vẫn nguyên vẹn".


Ông Đặng Xuân Chính bên những hình ảnh về chiếc giếng cổ trong làng. (Ảnh: Kim Thược)



Ngoài ra, chiếc giếng cổ còn lại nằm trong khuôn viên của một gia đình trong thôn. Chiếc giếng này có tuổi đời hơn 1.300 năm và đến nay vẫn được gia đình này sử dụng để lấy nước sinh hoạt hàng ngày.

Sở dĩ, giếng phải khôi phục là do thời kì kháng chiến chống Pháp, giếng đã bị lấp đi. Người dân thôn Tam Kỳ quan niệm: "
2 chiếc giếng cổ là hai mắt thần và là linh khí của thôn Tam Kỳ. Bởi vậy, việc lấp hai chiếc mắt thần đã vô tình động linh khí của làng. Muốn linh khí tốt, người dân phải khôi phục lại hai chiếc giếng cổ".

Được biết, giếng ngọc của làng còn gắn với di tích Quán Dố - một ngôi miếu cổ, thờ Ma Lỗ Đại Vương. Theo lệ làng, cứ đến tháng sáu âm lịch, dân làng tổ chức lễ rước nước từ giếng ngọc về Quán Dố để cầu mưa.

Khi ấy, các cụ cao niên trong làng sẽ khăn áo chỉnh tề, trai tráng thì vác kiệu, vác lọng, bê ché ra trước giếng, xin Thần giếng cho nước thiêng về thờ tại Quán Dố, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.


Nhiều đứa trẻ trong làng rất tò mò về câu chuyện xoay quanh chiếc giếng cổ. (Ảnh: Kim Thược)



Thế nên sau này dù có một khoảng thời gian bị vùi lấp, dù nước giếng ngọc không được sử dụng để ăn uống như xưa, nhưng người thôn Tam Kỳ vẫn luôn quý trọng giếng như bảo vật. Khi tôn tạo lại giếng vào năm 2012, dân làng Tam Kỳ người góp đất, người góp công, người góp tiền giữ cho giếng một khoảng trời riêng bên cổng làng, để bảo tồn giá trị văn hóa cổ xưa hàng ngàn năm tuổi.

Năm 2016, Quán Dố cũng được tôn tạo. Bắt đầu từ tháng sáu âm lịch năm 2017, dân làng sẽ khôi phục lại lễ rước nước, cầu mưa. Trước khi rời Tam Kỳ, ông Nguyễn Xuân Huy - Trưởng thôn Tam Kỳ tâm sự:
"Tôi mong rằng vẻ đẹp này, công trình cổ xưa và quý giá này sẽ luôn được người dân, chính quyền địa phương trân quý bảo tồn, để những lữ khách gần xa và cả con cháu đời sau càng thêm hiểu, thêm yêu quý và tự hào về truyền thống của quê hương Tam Kỳ".
Không chỉ là truyền miệng, giếng Tam Kỳ đã là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà lịch sử nổi tiếng. Qua nhiều lần khảo sát, đánh giá và dựa trên cách xây dựng, nguyên liệu, kỹ thuật gắn với một số di tích của làng, Nhà sử học Lê Văn Lan đã xác định niên đại của giếng cổ. Theo đó, giếng có từ thời nhà Đường, tức là cách đây khoảng 1200 năm. Năm 2013, khi giếng ngọc Tam được trùng tu và khánh thành, Nhà sử học Lê Văn Lan cũng đã có lời đề tự rằng đây là nơi: "Tụ Thủy như tụ Nhân".





KIM THƯỢC, THEO VTC



Nguồn: Kenh14.vn, 09:28 14/05/2017




Nhà lưu niệm liệt sỹ Tô Hiệu

Thursday, November 16, 2017

Làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, Văn Giang là mảnh đất liệt sỹ Tô Hiệu sinh ra và lớn lên. Năm 2000, tại khu đất cũ của gia đình đồng chí, nhà lưu niệm được xây dựng và trở thành một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ.


Đoàn cán bộ và nhân dân xã Nghĩa Trụ (Văn Giang) viếng mộ liệt sỹ Tô Hiệu (ảnh Báo HY)



Ðồng chí Tô Hiệu sinh năm 1912, là chiến sĩ cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên của Đảng, hy sinh ngày 7/3/1944 tại nhà tù Sơn La. Ðồng chí sớm giác ngộ, đi theo cách mạng, tham gia vào các phong trào yêu nước khi còn rất trẻ. Đồng chí từng hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức nhiều cuộc đình công, biểu tình và trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược. Tháng 2/1939, đồng chí Tô Hiệu được phân công về phụ trách Liên khu B (gồm các tỉnh miền Duyên hải Bắc Bộ và Hải Dương, Hưng Yên), trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Bị địch bắt lần thứ 2 khi đang kiểm tra việc in truyền đơn chuẩn bị cho phong trào đấu tranh mới (1/12/1939), tại xóm thợ Thượng Lý (quận Hồng Bàng), cuối tháng 12/1939, thực dân Pháp kết án 5 năm tù và đày đồng chí đi nhà tù Sơn La. Dù hai lần bị địch bắt, giam cầm nhưng đồng chí vẫn luôn lạc quan, kiên trung với con đường cách mạng. Đặc biệt tại nhà ngục hà khắc của thực dân Pháp, mặc dù bị lao phổi nặng do di chứng trong những ngày lao tù tại Côn Đảo, với cương vị là Bí thư chi bộ nhà tù, đồng chí đã hăng hái tham gia lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, giữ vững khí tiết cách mạng, đồng thời biến nhà tù thành trường học, đào tạo được nhiều cán bộ cốt cán cho Đảng, cho cách mạng. Đồng chí được anh em tuyệt đối tín nhiệm, tin tưởng, được coi như linh hồn của phong trào đấu tranh cách mạng trong nhà tù Sơn La. Cuộc đời của đồng chí Tô Hiệu tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại bài học to lớn về tinh thần đấu tranh cách mạng, về công tác xây dựng Ðảng. Bản lĩnh kiên cường, bất khuất, tinh thần lạc quan cách mạng cũng như tấm gương hy sinh anh dũng của đồng chí Tô Hiệu đã trở thành di sản quý báu trong lịch sử đấu tranh cách mạng và lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong suốt 4 năm trong nhà ngục Sơn La - “Địa ngục trần gian”, ông đã vận động, cảm hóa được nhiều binh lính ở đây, nhiều người giác ngộ cảm tình với cách mạng, sau đó tham gia cách mạng. Ngày 7/3/1944, Tô Hiệu hy sinh tại nhà tù Sơn La lúc 33 tuổi.
Được sự quan tâm của Đảng, nhà lưu niệm liệt sỹ Tô Hiệu được khánh thành năm 2000, nằm bên cạnh nhà thờ Tổ, trong khuôn viên rộng hơn 700 m2 . Năm 2012, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh, gia đình đồng chí đã tiến hành nâng cấp, sửa chữa một số hạng mục nhà lưu niệm, năm 2014 xây thêm khu nhà đón tiếp khách đến tham quan, thăm viếng.

Tổng thể kiến trúc của công trình mang đậm nét truyền thống với kết cấu kiểu chữ Đinh gồm 2 tòa: Tòa ngoài 3 gian, tòa trong là 1 gian làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi, nền lát gạch Bát Tràng. Phần trang trí tập trung của nhà lưu niệm ở tòa trong và gian trung tâm tòa ngoài với việc bài trí nhiều đồ thờ tự. Đây là nơi đặt ban thờ đồng chí Tô Hiệu với di ảnh và tượng bán thân đồng chí được đúc bằng đồng. Phía trên ban thờ treo bức hoành phi "Đại nghĩa lưu phương" (Đại nghĩa - sự nghiệp của Đảng để lại tiếng thơm mãi mãi về sau). Hai bên ban thờ treo đôi câu đối chữ Hán:

"Vạn lý đào hoa nghinh quốc vận;
Thiên thu hồng nhật chiếu gia thanh
"
Dịch nghĩa: “Muôn dặm hoa đào mừng vận mới của Tổ quốc;
Ngàn thu mặt trời rọi sáng trên thanh danh của gia đình họ Tô"

Các bức hoành phi, câu đối trên đây đều do Giáo sư, anh hùng lao động Vũ Khiêu đề tặng nhân dịp khánh thành nhà lưu niệm với nội dung ca ngợi công đức của đồng chí Tô Hiệu.

Hai bên tòa nhà là nơi trưng bày hơn 100 tài liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu nhằm tái hiện lại thân thế, cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng cùng những đóng góp to lớn của đồng chí đối với quê hương, đất nước thể hiện rõ nét qua 3 chủ đề chính:
1: Quê hương Xuân Cầu và dòng họ Tô ở Xuân Cầu;
2: Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Tô Hiệu;
3: Tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với đồng chí Tô Hiệu.

Cây đào ở nhà tù Sơn La được mang tên Tô Hiệu vào năm 1945 khi cách mạng đã thành công để tượng trưng cho tinh thần đấu tranh cách mạng của một chiến sỹ kiên cường. Sau này một cành của cây đào này đã được triết và đưa về trồng bên Lăng Bác. Nghĩa trang Gốc Ổi ở thành phố Sơn La cũng trồng đào sau khi lấy giống từ cây đào này. Ngày nay cây đào Tô Hiệu ở Nhà tù Sơn La luôn xanh tươi chào đón du khách mọi miền có dịp đến thăm. Trong sân của nhà lưu niệm liệt sỹ hiện có cây đào được nhân giống từ cây đào Tô Hiệu tại nhà tù Sơn La để tưởng nhớ tới người anh hùng đã khuất.

Hàng năm, vào ngày mất của liệt sỹ, con cháu trong dòng họ dù xa hay gần đều tề tựu đông đủ về nhà thờ Tổ, nhà lưu niệm để thắp nén nhang thơm tỏ lòng thành kính tới người con ưu tú của dòng họ Tô. Nhà lưu niệm liệt sỹ Tô Hiệu sẽ là nơi chào đón nhân dân và du khách thập phương khi về thăm mảnh đất Hưng Yên địa linh, nhân kiệt.

TTTTXTDL

Hoạ sĩ Tô Ngọc Vân người thầy lớn của nền Mỹ thuật Cách mạng

Cứ mỗi dịp đất nước kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, các thế hệ thầy trò Trường ĐH Mỹ thuật VN lại nhớ về họa sĩ Tô Ngọc Vân...



Chân dung họa sỹ Tô Ngọc Vân, chì màu của Lê Lam. Trên tranh có chữ ký của các sinh viên khóa Kháng chiến.



Ông là một người thầy lớn có nhiều đóng góp trong kháng chiến và để lại nhiều niềm tôn kính và tiếc thương trong lòng các thế hệ giáo viên mỹ thuật khi ra đi ngay sau chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ.

Học trò của ông vẫn truyền lại hoàn cảnh hi sinh của ông như để nhắc nhở nhau về một tấm gương lao động nghệ thuật chân chính vì dân vì nước. Sau chiến thắng “chấn động địa cầu”, lúc đó, trên đường làm nhiệm vụ, với cương vị của mình, họa sỹ Tô Ngọc Vân hoàn toàn được tiêu chuẩn đi ô tô, nhưng ông đã khước từ, tự nguyện đi cùng đoàn bộ đội để được chứng kiến đoàn quân khải hoàn phục vụ cho công việc ký họa chân thực của một nghệ sĩ cách mạng.

Thời gian đó, dù thất bại trên chiến trường Điện Biên Phủ, quân Pháp vẫn điên cuồng bắn phá ta. Ông đã hi sinh ngày 17 tháng 6 năm 1954 trong một cuộc dội bom của Pháp tại Km41, Ba Khe, Sơn La.

Hoạ sỹ Tô Ngọc Vân (1906 -1954) sinh ra ở Hà Nội, có quê gốc làng Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên. Ông học khoá II Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925 -1931), sau này trở thành giáo sư hội hoạ của trường.

Tác giả bức tranh nổi tiếng “Thiếu nữ bên hoa huệ”, “Hà Nội vùng đứng lên” đã tham gia hoạt động bán công khai trong Mặt trận Việt Minh, là một trong những hoạ sỹ đầu tiên được vào vẽ Bác Hồ tại Bắc Bộ phủ.


Thiếu nữ bên hoa huệ. Tác giả: Tô Ngọc Vân



Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ có Nghị định mở lại trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam và hoạ sỹ Tô Ngọc Vân được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam là một trong 6 trường Đại học và Cao đẳng đầu tiên của nền giáo dục Cách mạng.

Năm 1946, khóa học đầu tiên tồn tại từ tháng 10 đến ngày toàn quốc kháng chiến (12/1946). Đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, họa sĩ Tô Ngọc Vân cùng nhiều văn nghệ sĩ đã lên chiến khu tham gia kháng chiến trường kỳ. Năm 1950, sau những nỗ lực vận động và hoàn cảnh kháng chiến cho phép, Trường Cao đẳng Mỹ thuật tiếp tục khai giảng với khóa học 21 sinh viên. Khóa học này có tên đặc biệt Khóa Kháng chiến.

PGS. NSND. họa sỹ Ngô Mạnh Lân là một trong số các sinh viên của khóa học đặc biệt đó. Ông còn nhớ như in trong điều kiện kháng chiến gian khổ ấy, họa sĩ Tô Ngọc Vân cùng các giảng viên của Trường Mỹ thuật Kháng chiến luôn cố gắng đảm bảo chất lượng giáo dục, đời sống cho các sinh viên. Người thầy ấy cùng gia đình có lúc đã bỏ tiền của để nuôi sinh viên qua những năm gian khó.


Hà Nội vùng đứng lên, khắc gỗ, 1946. Tác giả: Tô Ngọc Vân



Từ phương thức “Học trong cuộc sống”, thầy giáo Tô Ngọc Vân và các đồng nghiệp của Trường đã tạo ra một chuyển biến quan trọng trong sinh viên là đưa nghệ thuật trở về với cuộc sống đời thường nhật, phục vụ công cuộc kháng chiến của dân tộc.

“Thầy Tô Ngọc Vân nói rằng, nhân dân nuôi chúng ta cơm ăn áo mặc thì chúng ta phải trả lại nhân dân bằng hội họa, bằng tác phẩm của mình” – PGS, NSND. Họa sỹ Ngô Mạnh Lân chia sẻ: “Với phương châm ấy, những người cán bộ và họa sĩ là cán bộ cũng công tác như mọi người khác và phục vụ nhân dân bằng tác phẩm của mình. Anh em chúng tôi đã thực hiện được điều đó”.

Do hoàn cảnh chiến tranh chưa có điều kiện để xây dựng các tác phẩm lớn, các sáng tác của thầy trò Khóa Kháng chiến thời ấy chủ yếu tập trung vào mảng ký họa, tranh cổ động. Chính những sáng tác này đã tạo nên những giá trị hết sức độc đáo của một giai đoạn lịch sử. Bắt đầu từ đây, người nghệ sỹ dấn thân vào công cuộc kháng chiến, xác lập ý thức công dân, khẳng định vai trò của người cán bộ mỹ thuật-cán bộ văn hóa.

Họa sỹ Tô Ngọc Vân (ngồi thứ 5, hàng dưới, từ trái sang) cùng các giảng viên và sinh viên Trường Mỹ thuật Kháng chiến, tại Việt Bắc



“Họa sỹ Tô Ngọc Vân đã có công truyền thụ những giá trị nhân văn, phương pháp sư phạm khoa học của Trường Mỹ thuật Đông Dương cùng tình yêu Tổ quốc cho một thế hệ nghệ sỹ của nền tạo hình cách mạng” – PGS, NGND. Họa sỹ Lê Anh Vân, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Mỹ thuật VN khẳng định: “Những quan điểm và phương pháp giáo dục của họa sỹ Tô Ngọc Vân đã tạo nên một thế hệ nghệ sỹ kháng chiến tài năng, có vị trí trang trọng trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại”.

Ông có nhiều tiểu luận phê bình có tính học thuật đăng trên các báo được dư luận chú ý như: “Bước đầu của Hội họa Việt Nam” (1942), “Học hay không học” (1949), “Người vẽ” (1950), “Tranh tuyên truyền và hội họa” (1947-1948). Những bài viết và tham luận của họa sỹ Tô Ngọc Vân đã đưa ông vào vị trí một cây bút lý luận phê bình thuộc hàng tiền bối.

Với những đóng góp to lớn của mình, họa sỹ Tô Ngọc Vân đã được nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập Hạng Nhất năm 1996. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Những đường phố mang tên của ông xuất hiện trên nhiều tỉnh thành từ Bắc vào Nam.

Nhà phê bình mỹ thuật Trần Thức khẳng định: “48 năm tuổi đời, 28 năm tuổi nghề với những đóng góp lớn lao không mệt mỏi, đầy nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình và trọng trách, Tô Ngọc Vân thực sự đã bắc được những nhịp cầu nhân ái và trí thức từ nghệ thuật với các thế hệ nối tiếp, vì tương lai văn hóa nước nhà”


Họa sỹ Tô Ngọc vân
- Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1906
- Quê quán: Xã Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, năm 1931.
- Ông mất ngày 17 tháng 6 năm 1954

Quá trình công tác:
- Năm 1939 - 1945: Giáo sư Trường Mỹ thuật Đông Dương.
- Năm 1945 - 1954: Hiệu trưởng Trường Đại học thuật Việt Nam,
trực tiếp giảng dạy Khóa Mỹ thuật Kháng chiến tại Việt Bắc
- Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến.
- Giám đốc Xưởng Sơn mài Việt Nam.
- ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam.
- ủy viên Ban Mỹ thuật Trung ương

Những công trình chính:
- Thiếu nữ bên hoa huệ, sơn dầu, 1943
- Thuyền trên sông Hương, sơn dầu
- Hồ Chủ tịch làm việc, khắc gỗ, 1946
- Bác Hồ làm việc ở Bắc Bộ phủ, sơn dầu, 1946
- Bộ đội nghỉ chân bên đường, sơn mài, 1948
- Xưởng quân giới, sơn dầu, 1951
- Tập ký họa trong kháng chiến chống thực dân Pháp

Giải thưởng
- Bằng danh dự của triển lãm Thuộc địa Paris năm 1931
(Honorary certificate at the Colonial Exposition of Paris in 1931)
- Khen thưởng danh dự tại triển lãm của Hội Họa sỹ Pháp - Salon Paris năm 1932.
- Giải nhất triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1954.
- Huân chương Độc lập Hạng Nhất.

đăng bởi: vovnews

Nguồn: Xaluan.com