Xuân Cầu

Sunday, April 30, 2017

Giới thiệu chung

Làng Xuân Cầu là một làng có từ lâu đời ở xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Xuân Cầu, xưa kia còn có tên gọi là Hoa Cầu, Huê Cầu, Xuân Kỳ. Làng có từ đời nhà Đường, trong làng còn có 4 giếng đá kiểu Trung Quốc. Đời vua Thiệu Trị, vì kỵ húy đổi là Xuân Kỳ nhưng nhân dân quen dùng tên cũ, mà đọc chệch đi là Huê Cầu. Làng có nghề nhuộm thâm từng đi vào ca dao cổ tích, và món đặc sản là bánh mỡ nổi tiếng. Nhưng gần đây đã thất truyền và trong làng, những di tích xưa cũng không còn.

Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền.

 


Đặc sản:

Bánh Xuân Cầu

Bánh Xuân cầu là loại bánh rán mỡ thường được dùng rất phổ biến tại miền Bắc xưa kia, nay đã mai một [2]. Bánh vuông bằng hai ngón tay và mỏng như tờ giấy bản, được bỏ vào chảo chiên phồng, nở phồng với nhiều màu sắc tươi đẹp, ăn với mật ong, có vị ngọt, béo, bùi và thơm [2].

Vải thâm Xuân Cầu

Theo truyền thuyết thì nghề nhuộm vải thâm ở Huê Cầu (Xuân Cầu) cũng có ngót nghét 2.000 năm [1]. Thuốc nhuộm là củ nâuCủ nâu - Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu - Dioscoreaceae.

Mô tả: Dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn. Hoa mọc thành bông. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh.

Bộ phận dùng: Củ - Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae, thường có tên là Thự lương.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Là cây thường dùng để nhuộm vải lưới cho có màu nâu bền. Cũng dùng để thuộc da. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng. Củ nâu dọc trai dùng nhuộm tốt hơn.

Thành phần hoá học: Củ chứa nhiều tanin catechic (đến 6,4%) và có tinh bột.

Tính vị, tác dụng: Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết, cầm ỉa.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngoài việc dùng để nhuộm. Củ nâu có thể dùng ăn. Người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn. Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ. Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa: 1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh; 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.
, đun trong nước lá sòiSòi - Sòi, Sòi xanh - Sapium sebiferum (L.) Roxb., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Mô tả: Cây gỗ rụng lá cao 6-15m. Lá mọc so le, hình quả trám, dài 3-7cm, chóp lá thuôn nhọn, cuống lá dài có tuyến. Hoa đơn tính, màu trắng vàng hay vàng, mọc thành bông ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa cái nhiều, ở gốc, hoa đực ở trên. Hoa đực có đài hình đầu phân thuỳ hoặc có răng, nhị 2, bao phấn gần hình cầu. Hoa cái có đài hợp, 2-3 thuỳ và nhuỵ 3, bầu hình trứng có 3 ô. Quả hạch hình cầu có 3 hạt.

Cây ra hoa tháng 6-8, quả tháng 10-11.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá, hạt - Cortex Radicis, Cortex et Folium Sapii Sebiferi. Vỏ rễ thường có tên là Ô cữu căn bì

Nơi sống và thu hái: Cây của Ðông Á châu ôn đới và cận nhiệt đới, mọc hoang ở vùng đồi núi. Có khi được trồng làm cây cảnh. Thu hái vỏ rễ và vỏ cây quanh năm, thái nhỏ và phơi khô. Lá thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Vỏ rễ chứa xanthoxylin, acid tanic.

Tính vị, tác dụng: Sòi có vị đắng, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng sát trùng, giải độc, lợi niệu, thông tiện, tiêu thũng, trục thuỷ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa:
1. Phù thũng, giảm niệu, táo bón;
2. Bệnh sán máng, cổ trướng, xơ gan;
3. Viêm gan siêu vi trùng;
4. Ngộ độc nhân ngôn;
5. Rắn độc cắn.

Thân và lá dùng chữa viêm mủ da, ngứa lở thấp chẩn, chai cứng. Dùng vỏ rễ 3-6g, lá 9-15g, đun sôi lấy nước uống. Giã lá tươi để đắp ngoài, hoặc nấu nước để rửa.

Ở Vân Nam (Trung Quốc) còn được dùng trị tiểu tiện không thông, viêm âm đạo.

Ðơn thuốc:
1. Phù thũng, Rễ Sòi tươi, lấy màng thứ nhì 15g, đường 15g, đun sôi lấy nước uống.
2. Bệnh sán máng: Lá Sòi 8-30g, sắc uống. Dùng liền trong 20-30 ngày.
3. Phù thũng, cổ trướng, đại tiện không thông, ứ nước hoặc bí đầy, ăn uống không xuôi: Màng rễ Sòi (lớp trắng ở trong), Mộc thông, hạt Cau, mỗi vị 12g, sắc uống.
4. Ngộ độc: Lá Sòi 1 nắm giã nhỏ, chế nước vào, vắt lấy nước cốt uống.
(một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải có mầu đen thâm, không phai và tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí [1].


Danh nhân Làng Xuân Cầu

Làng Xuân Cầu còn có nhiều Danh nhân như: Họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà cách mạng Tô Hiệu, nhà cách mạng Lê Văn Lương.

Tham khảo

  1. Vải nhuộm thâm làng Huê Cầu
  2. Vũ Bằng - Miếng ngon Hà Nội, bánh Xuân Cầu
  3. Thịt chuột ký sự
  4. Đặc sản bánh Xuân Cầu của làng đã bị mai một



Mời xem các bài về Xuân Cầu



Video Làng Xuân Cầu


Truyền hình Hưng Yên - HYTV




Làng ba bước chân gặp một 'rừng người' nổi tiếng

Wednesday, April 5, 2017
_ DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG _

Nơi đó, từng bờ ao, góc giếng, gốc cây, con ngõ làng đều in dấu những danh nhân. Đây là ao nơi Lê Văn Lương từng ra tắm, kia là nhà nơi Tô Hiệu từng dạy học...



Đây là ao nơi Lê Văn Lương từng ra tắm, kia là nhà nơi Tô Hiệu từng dạy học hay đánh cờ, nọ là chốn mà Tô Ngọc Vân từng kê giá vẽ, kề bên đó là góc vườn của nhà văn Nguyễn Công Hoan…

Người tình của Tô Hiệu

Làng Xuân Cầu (xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên) không quá lớn, chỉ rảo bộ một lúc đã hết lượt. Bởi vậy mật độ người nổi tiếng càng thêm đậm đặc, cảm tưởng cứ ba bước chân lại gặp một nhà người nổi tiếng. Bốn cái giếng đá gắn với lịch sử của làng từ 12 thế kỷ nay như minh chứng về một vùng đất của người Việt gốc Hoa di dân.

Một cái cổng làng Xuân Cầu

Dân làng thường tự hào rằng:
“Làng tôi ăn nước giếng khơi.
Xây toàn bằng đá nước thời trong veo.
Ba thôn không có người nghèo.
Có muốn lịch sự thì theo anh về”
.

Đã từng có những năm tháng lầm lỡ báng bổ thánh thần, chùa chiền khắp nơi bị biến thành các kho phân đạm của HTX, tấm bia văn chỉ của làng cũng bị cánh thanh niên phá ra định để nung vôi, có một ông lão tiếc rẻ mới xin về làm cái cầu giặt. Sau nhờ cánh sinh viên khoa sử của một trường đại học sơ tán về, tình cờ đọc được những văn tự trên cái cầu giặt đó mới giật mình bởi làng có 11 người đỗ đại khoa gồm 9 tiến sĩ và 2 phó bảng.

Làng chia làm hai nghề rõ rệt là làm ruộng và đi buôn. Đã buôn là buôn lớn nên ở Hà Nội hay Hải Phòng đều có những tiệm sang trọng bắt đầu bằng chữ Xuân. Cũng chính bởi sự ganh đua buôn bán, ganh đua học hành hay ganh đua đi làm cách mạng ở cái thủa “gươm kề cổ, súng kề tai” đã khiến cho người làng trở nên nổi tiếng.
Thế hệ thứ nhất có thể nói đến các nhà cách mạng như Tô Chấn, Tô Hiệu, Lê Giản, Lê Văn Lương (Nguyễn Công Miều - em của nhà văn Nguyễn Công Hoan) hay họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà văn Nguyễn Công Hoan. Thế hệ thứ hai là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền (bố của Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài (con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan)…

Nhà lưu niệm về Tô Hiệu

Làng có ba thôn nhưng hầu hết những người nổi tiếng đều ở Tam Kỳ, tập trung quanh khu giếng đình Ba, nơi đất phát của dòng họ Tô. Trong hồi ức của ông Tô Ngọc Thực thì:
Cho đến năm 1934 vào khoảng cuối mùa thu, một buổi chiều nắng dịu, các bà, các cô gái đi chợ Nhiễm về hớn hở: “Anh Hiệu đã về. Anh Hiệu đã về”.
Bác Hiệu tầm thước, mảnh dẻ, gương mặt hiền hậu hay cười. Bác mặc quần áo tù màu xám, chân đi guốc mộc kèm theo là hai tên lính cơ đưa về cho lý trưởng làng Xuân Cầu quản thúc… Trong sân miếu cổ ngay trước cổng nhà Tô Hiệu đã biến thành một sân vận động nhỏ, tập thể dục, tập võ, lên xà đơn. Ngoài lập ra hội nông dân cứu tế, bác còn mở lớp dạy học ngay tại nhà rồi vận động thành lập trường kiêm bị Xuân Cầu.
Còn đây là những dòng đầy cảm xúc của ông Lê Giản (Tô Gĩ) khi viết về Tô Hiệu:
Tô Hiệu là trạng cờ... Người ta đánh một ván cờ mất hàng giờ hay hơn nữa. Những người chơi là tướng cờ nổi tiếng trong vùng, bao nhiêu tâm trí tập trung vào ván cờ nên thường lườm nguýt những người chầu rìa hay tán chuyện.
Còn Tô Hiệu thì cứ ung dung, nhiều lắm một nước đi cũng chỉ vài ba phút vừa đánh cờ vừa tán chuyện đâu đâu với bọn cùng lứa tuổi nhưng cuối cùng ông đàn anh ba bốn chục tuổi vẫn thường phải cười nói cho đỡ ngượng: “Ban nãy mình tính nhầm một nước, biết là phải để phần thắng cho chú mà”.
Tôi rảo bộ đến nhà bà Nguyễn Thị Gái - học trò của ông thủa nào để nghe những câu chuyện quá vãng và nghe hát trống quân.
Bà Gái (bên phải) - học trò của Tô Hiệu đang hát trống quân
Tôi lại đến nhà người tình của ông, bà Nguyễn Thị Vân Tường (tên thường gọi là bà Tì). Bà đã mất chỉ còn người cháu họ tên là Nguyễn Thị Sơn vẫn ngày ngày bên chái nhà cũ kể lại chuyện ngày xưa.

Ông Hiệu và bà Tì lúc còn ở làng hai nhà đã gán ghép cho nhau, khi ông đi tù ở Sơn La thì bà do hoạt động cách mạng cũng tù ở Hải Phòng. Ra tù, bà lên Sơn La thăm, ông thấy sức khỏe mình yếu, liệu không qua khỏi mới khuyên người yêu đi lấy chồng nhưng bà nào có chịu.
Về sau ông mất đi, khi nhận được tấm ảnh cũ kĩ còn lưu tại sở mật thám Pháp bà cứ ôm lấy mà khóc rằng:
“Cùng nhau xa cách đã bao đông.
Nhìn ảnh càng thêm chạnh nỗi lòng.
Cay đắng bất bình khi nhớ tiếc.
Ngậm ngùi ly biệt lúc sầu tuôn.
Tím gan tưởng nhớ lời giao ước.
Nát ruột đành cam giọt lệ hồng.
Nhà tù canh tàn ngơ ngẩn bóng.
Xa xôi tình nghĩa chẳng vân mòng”.


Bà Tì sống một đời phúc hậu nhưng cô độc ở làng. Trước khi chết, có một đoàn cán bộ đến thăm, hỏi bà cần gì không? Bà đáp: “Tôi không chồng, không con, sau này chết có được tiêu chuẩn hương khói gì không?”. Vị cán bộ đáp: “Có bà ạ”. Thế nhưng cứ như bà Sơn cho hay thì từ lúc mất đi, ngày giỗ, ngày tết không có một nén hương nào của chính quyền, nghĩ mà thêm tủi.


Ông Lê Văn Lương “biết thôi miên”

Mẹ ông Tô Nhụ thường nói rằng: “Cậu Miều thôi miên giỏi lắm, nhìn vào mắt người khác là khiến được họ” (ông Lê Văn Lương có tên thật là Nguyễn Công Miều).
Về chuyện này ông Quản Ngọc Tuấn nguyên Bí thư xã Nghĩa Trụ lại giải thích sở dĩ dân làng đồn thổi ông Lê Văn Lương biết thôi miên là bởi mắt ông bình thường hay lim dim nhưng khi mở to thì rực sáng lạ thường: “Ông Lương thường ra khu Mả Giang Ao Trại khi mặt trời còn chưa mọc để tập thể dục. Mặt trời mọc, ông ngồi hướng thẳng nhìn về phía đó để luyện mắt…”.

Ảnh của những người dòng họ Tô

Ngôi nhà cũ của dòng họ Nguyễn Công về sau được bán cho một người cùng làng nên giờ đây nhà tưởng niệm Lê Văn Lương dựng trên đất được chính quyền cấp. Trong cương vị là Bí thư xã ông Tuấn cũng đã nhiều lần được tiếp kiến anh ông Lương là nhà văn Nguyễn Công Hoan và rất ấn tượng bởi dễ gần, nhất là thích… tổ tôm.

Chuyện về ông Lê Giản - đoạn trước cách mạng rất kỳ bí. Khi đi hoạt động ông bị Pháp bắt đày ở nước ngoài, được chính quân đồng minh giải thoát, huấn luyện làm gián điệp để chống lại phát xít Nhật rồi thả xuống Việt Nam năm 1944. Có lẽ ông là người giữ kỷ lục thế giới khi là người đầu tiên nhảy dù từ pháo đài bay B29 xuống trên một hành trình bay thẳng gần 3.000km từ Ấn Độ đến Việt Nam.
Sau này ông làm công an, rất nổi tiếng với vụ án Ôn Như Hầu phá tan âm mưu lật đổ của Việt Nam quốc dân đảng năm 1946, được phong Tổng giám đốc Nha công an Trung ương.

Còn chuyện ông Nguyễn Tài thì chính kẻ thù giam cầm ông cũng phải khiếp.
Số là trong kháng chiến chống Mỹ, chẳng may ông bị bắt, biết là cán bộ to nên áp dụng phương pháp tra tấn tinh thần mới nhất của CIA là nhốt trong một xà lim 4 m2 sơn trắng toát và chiếu đèn cường độ cao. Không biết ngày đêm, không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì. Ông đã vẽ một ngôi sao lên tường rồi ngày ngày chào cờ, hát lên, “viết” lên trong đầu để không rơi vào trạng thái quẫn trí mà phát điên.
Suốt 4 năm giam giữ như thế, các máy phân tích nói dối của CIA đều vô hiệu khiến cho người Mỹ phải gọi ông là "The Man in the Snow White Cell" - tức người đàn ông trong buồng ngục tuyết trắng. Kẻ tra tấn tinh thần ông, Frank Snepp sau này đã viết một cuốn sách về cuộc chiến trong đó dành trọn một chương để viết về ông, Nguyễn Tài.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai năm 1951 làng có 5/158 đại biểu tham dự. Làng có hai Ủy viên Bộ Chính trị là nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Văn Lương và Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm. Tiến sĩ xưa có 9 người còn nay đếm sơ cũng trên dưới 30 người.




DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam, 13:15, Thứ 3, 07/03/2017