Mẹ tôi kể về Tự Lực Văn Đoàn: “Những người mất cả vốn lẫn lời”

Friday, November 1, 2013

Giải mật Tự Lực Văn Đoàn

Mẹ tôi kể về Tự Lực Văn Đoàn: “Những người mất cả vốn lẫn lời”


"... một bài viết có tính tư liệu độc đáo về xuất thân của các tay bút chủ lực của Tự lực văn đoàn do cố nhà văn Nghiêm Đa Văn ghi lại từ lời kể của mẹ nhà văn Khái Hưng. Tựa bài là: Mẹ tôi kể về Tự Lực văn đoàn: "Những người mất cả vốn lẫn lời".


Mối quan hệ làng, họ và gia đình truyền thống

Sunday, October 13, 2013


Cuộc Sống của gia đình truyền thống người Việt không thể tách rời làng và họ. Có thể nói làng, họ và gia đình là 3 yếu tố hòa quyện vào nhau, chi phối lẫn nhau. Trong cuộc sống hàng ngày của từng cá nhân đặc biệt trong thời kỳ đột xuất có cưới xin, tang ma, hội hè, đình đám thi họ và làng có vai trò rất quan trọng. Chúng tôi cho rằng tìm hiểu gia đình truyền thống người Việt không thể không đề cập đến họ và làng.

Trên quan điểm như vậy, bài viết này dựa vào tư liệu một làng ở đồng bằng sông Hồng, làng Xuân Cầu - khảo tả các yếu tố trên như những thứ lớp trong một hệ thống, một thực thể. Chúng tôi tự đặt nhiệm vụ xin trình bày những sự thực khách quan cho đến giữa thế kỷ XX. Phần nhận xét của tác giả xin để sau này.


Làng Việt cổ: Làng khoa bảng

Wednesday, May 15, 2013



Làng khoa bảng là làng của các cộng đồng dân cư người Việt ở nông thôn (chủ yếu ở vùng châu thổ Bắc bộ) có nhiều người đỗ đạt cao qua các kỳ thi của Nhà nước phong kiến. Trên vùng châu thổ Bắc bộ, hiện có 23 làng khoa bảng tiêu biểu, là những làng có từ 10 người trở lên đỗ đại khoa (từ Phó bảng trở lên). Trong đó:

Thành phố Hà Nội có 7 làng:
  1. làng Đông Ngạc, Từ Liêm (20 người);
  2. làng Tả Thanh Oai, Thanh Trì (12 người);
  3. Hạ Yên Quyết, Từ Liêm (11 người);
  4. Nguyệt Áng, Thanh Trì (11 người);
  5. Phú Thị, Gia Lâm (10 người);
  6. Thượng Yên Quyết, Từ Liêm (10 người);
  7. Chi Nê, Chương Mỹ (10 người)

Tỉnh Bắc Ninh có 6 làng:
  1. Kim Đôi, Kim Chân, Bắc Ninh (21 người);
  2. Tam Sơn, Từ Sơn (17 người);
  3. Nội Duệ, Tiên Du (13 người);
  4. Hương Mạc, Từ Sơn (11 người);
  5. Vĩnh Kiều, Từ Sơn (10 người);
  6. Vọng Nguyệt, Tam Giang, Yên Phong (10 người);

Tỉnh Hưng Yên có 3 làng:
  1. Xuân Cầu, Nghĩa Trụ, Văn Giang (11 người);
  2. Lạc Đạo, Văn Lâm (11 người);
  3. Thổ Hoàng, Ân Thi (10 người);

Tỉnh Hải Dương có 2 làng:
  1. Mộ Trạch, Bình Giang (34 người);
  2. Nhân Lý, Nam Sách (11 người);

Tỉnh Thanh Hóa có 2 làng:
  1. Cổ Đôi, Nông Cống (11 người);
  2. Nguyệt Viên, Hoằng Quang, Hoằng Hóa (11 người);

Tỉnh Vĩnh Phúc 1 làng:
  1. Quan Tử, Sơn Đông, Lập Thạch (12 người);

Tỉnh Bắc Giang có 1 làng:
  1. Yên Ninh, Việt Yên (10 người);

Tỉnh Hà Tĩnh có 1 làng:
  1. Đông Thái, Tủng Ảnh, Đức Thọ (10 người).

Số người đỗ đại khoa tại các Làng khoa bảng phân theo học vị được thống kê trong bảng sau:

Vài nét lịch sử Xuân Cầu

Tuesday, April 2, 2013
_ Sưu tầm trên mạng _


TânKiều, khiêu, cao Tân Kiều[1][1] 新橋 Tân Kiều
Chữ này có trong Bia Hưng Phúc tự bi kí (1583) ở xã Xuân Cầu (Xem bên dưới)
>> HoaKiều, khiêu, cao Hoa Kiều[2][2] 花橋 Hoa Kiều
Chữ này có trong VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA QUÝ SỬU (1553) ĐẾN KHOA NHÂM THÌN (1592) - Bia Văn miếu Bắc Ninh, Bia số 6:
阮恒細江 花橋 仕至参政 -
Nguyễn Hằng Tế Giang Hoa Kiều sĩ chí tham chánh -
NGUYỄN HẰNG 阮恒 người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang, làm quan đến Tham chính.
>>  HoaCầu Hoa Cầu[3][3] 花球 Hoa Cầu
Chữ này có trong KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA TÂN HỢI (1731) ĐẾN KHOA ĐINH MÙI (1787) - Bia Văn miếu Bắc Ninh, Bia số 10:
昭統丁未制科第三甲同制科阮嘉吉細江 花 球 禮部左参知 -
Chiêu thống đinh vị chế khoa đệ tam giáp đồng chế khoa Nguyễn Gia Cát Tế Giang Hoa Cầu lễ bộ tả tham tri -
Niên hiệu Chiêu Thống thời Lê khoa Đinh Mùi, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ: NGUYỄN GIA CÁT 阮嘉吉 người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang, làm Tả Tham tri Bộ Lễ.
>> hoa, hóa?Cầu Huê Cầu[4][4] 華?球 Huê Cầu
Chưa tìm thấy tài liệu, có thể là chữ “Hoa華” hay là “Huê華”. Tiếng Triều Châu - Mân Việt còn đọc là “Hoe華”, lại đọc là “Hỏa華” theo tiếng Bắc Kinh
>>  XuânCầu Xuân Cầu[5][5] 春球 Xuân Cầu
Chữ này có trong VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA THI HỘI NĂM BÍNH TUẤT NIÊN HIỆU MINH MỆNH NĂM THỨ 7 (1826) - Bia Văn miếu Huế, Bia số 2 (84):
蘇 珍, 舉人, 北寧鎮順安府文江縣春球社人, 年庚辛亥參拾陸歲 -
Tô Trân, cử nhân, Bắc Ninh trấn Thuận An phủ Văn Giang huyền Xuân Cầu xã nhân, niên canh Tân Hợi tham thập lục tuế -
TÔ TRÂN 蘇 珍, Cử nhân, người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang phủ Thuận An, sinh năm Tân Hợi, thi đỗ năm 36 tuổi.



[...]Vào làng phải qua cổng xây, kiến trúc trên lầu dưới vòm giống như lối kiến trúc Trung Hoa...

[...] Đặc biệt, ở Xuân Cầu hiện còn tồn tại một cổng làng cổ. Tuy đôi câu đối hai bên trụ cổng đã mờ hết, nhưng theo hồi cố của các cụ trong làng, thì nó như một tuyên ngôn của làng, một chân lý sống cho tất cả những ai sinh ra và lớn lên ở đây:

“Cổng làng tuy thấp nhưng võng lọng đều chui lọt
Dân có yên vui thì nước mới mạnh giàu”.



Mời xem: Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu ... - Loạt bài về lịch sử Xuân Cầu của Trần Xuân Đạt.

Di tích Giếng nước cổ Tam Kỳ

Monday, April 1, 2013
Cổng làng vừa khánh thành di tích giếng cổ Cổng Đồng (Giếng nước cổ Tam Kỳ) có tuổi hơn 1200 năm.
Nguyễn Hoàng Uyên

Con gái làng Hoa (*)
Uống nước giếng đá
Da dẻ nõn nà
Đắt chồng nhờ giếng
.

(Tục ngữ, Ca dao Hưng Yên)

(*) Làng hoa tức làng Hoa Cầu hay Xuân Cầu thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang.


Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (1) KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Monday, March 18, 2013
quyvanchuong


Trích đăng từ cuốn sách "HUYỀN TÍCH ĐỒNG TỈNH XUÂN CẦU" của tác giả Trần Xuân Đạt

Mời xem:

Chương I: KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG ĐỒNG TỈNH – XUÂN CẦU

Chương II: LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

GIAI THOẠI VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI HAI THÔN

II. ĐỒNG TỈNH – HOA CẦU NGÀN NĂM VĂN VẬT - PHONG TỤC TẬP QUÁN
II.1 CHUYỆN VỀ CÁC DANH NHÂN


Chương 1 - KHẢO SÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG ĐỒNG TỈNH – XUÂN CẦU


TIỂU DẪN:

Dải đất Nghĩa Trụ được ghi lại trong Đại Việt Sử LượcĐại Việt Sử Lược:
(chữ Hán: 大越史略), còn có tên là Việt sử lược (越史略), là một cuốn lịch sử Việt Nam viết bằng chữ Hán của một tác giả khuyết danh, ra đời vào thời nhà Trần. Đây là cuốn sử biên niên thuộc hàng sớm nhất của Việt Nam còn được lưu truyền cho đến nay.
Đọc bản PDF tại Viện Việt Học.
(chính sử) từ cuối thời Lý Cao TôngLý Cao Tông:
(chữ Hán: 李高宗, 1173–1210) là vị vua thứ bảy của nhà Lý, cai trị từ năm 1176 đến năm 1210.
Tượng thờ vua Lý Cao-Tông
, là vùng đất cổ, song song tồn tại cùng kinh thành Long Biên. Dải đất này có quá trình hình thành lâu dài nhờ lượng phù sa của dòng chảy sông Hồng chuyên chở từ cao nguyên Vân Nam Trung Quốc bồi đắp lên hàng triệu năm liên tục. Nếu tính từ thời Triệu Quang PhụcTriệu Quang Phục:
Triệu Việt Vương (chữ Hán: 趙越王; ?-571), tên thật là Triệu Quang Phục (趙光復), là vua Việt Nam cai trị từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.
đem binh về đây (Bãi SậyBãi sậy:
là một địa danh nổi tiếng gắn với một trong những cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX. Bãi sậy là một vùng đầm nước, um tùm lau sậy, nơi đây chính là căn cứ của nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo. Căn cứ Bãi Sậy là khu rừng sậy ở giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào. Vị trí Bãi Sậy hiểm yếu và có nhiều đường thông ra ngoài, tiện phòng thủ, thuận lợi trong tiến công, nơi đây còn có rất nhiều hầm hào luồn dưới những thân sậy, lớp nọ chồng lên lớp kia. Rắn độc cũng rất nhiều.

Tương truyền để lọt vào được căn cứ, phải vượt qua những đám sậy cao tới 3 mét cùng những gai mỏ quạ, cả gai leo, gai dứa cùng những cây lá han đụng vào là sưng tấy nhức buốt đến tận xương. Nếu vượt qua được cây lau sậy và đầm lầy, thì còn vô vàn những con đỉa đói bám lấy mà hút máu...
Màn TròMàn Trò:
Dạ Trạch là vùng đất thuộc xã Dạ Trạch, còn gọi là bãi Màn Trò, hay Mạn Trù, nay thuộc xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên nằm bên bờ sông Hồng. Tên xã lấy từ tên của đầm Dạ Trạch, xuất phát từ điển tích đầm một đêm (Nhất Dạ Trạch) của truyền thuyết Tiên Dung - Chử Đồng Tử trong dân gian. Vùng đất này xưa kia vì đê vỡ liên tiếp, nên không cày cấy được, lau sậy mọc đầy. Đây là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thời Bắc thuộc của Triệu Quang Phục thế kỷ VI chống quân
nhà LươngNhà Lương:
(tiếng Trung: 梁朝; bính âm: Liáng cháo) (502-557), còn gọi là nhà Nam Lương (南梁), là triều đại thứ ba của Nam triều trong thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc, sau thời kỳ của triều đại Nam Tề và trước thời kỳ của triều đại Trần. Kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh)...
và cũng là một trong những căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp thế kỉ XIX do Nguyễn Thiện Thuật làm chủ soái.) lập căn cứ chống lại quân nhà Lương (Quân nhà Lương do mãnh tướng Lý Bá TiênTrần Bá Tiên:
Trần Vũ Đế (chữ Hán: 陳武帝), tên thật là Trần Bá Tiên (陳霸先) 503-559) là vị vua đầu tiên, người sáng lập ra nhà Trần thời Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc.
Hoàng đế nhà Trần
dẫn binh bao vây nhằm cắt đứt đường tiếp vận lương thực, với mục đích khi cạn lương quân khởi nghĩa phải tự ra hàng, nhưng nghĩa quân của Triệu Quang Phục đã tổ chức khẩn hoang cày cấy gieo trồng, tự cung cấp lấy nguồn lương thực, dưỡng sức luyện quân chờ cơ hội tổng tấn công truy quét tiêu diệt quân giặc đã khiến cuộc bao vây của Lý Bá Tiên thất bại hoàn toàn.



Sau vì loạn Hầu Cảnhloạn Hầu Cảnh (Đông Ngụy):
(chữ Hán: 侯景之乱, Hầu Cảnh chi loạn) là cuộc nổi dậy của tướng lĩnh nhà Đông Ngụy là Hầu Cảnh chống lại quyền thần Cao Trừng diễn ra từ tháng 2 năm 547 đến tháng giêng năm 548. Cuộc nổi dậy này liên quan đến cả 3 nước chia ba Trung Quốc thành thế chân vạc khi đó là Đông – Tây Ngụy ở Trung Nguyên và nhà Lương ở phía nam Trường Giang...

loạn Hầu Cảnh:
(chữ Hán: 侯景之乱, Hầu Cảnh chi loạn) là cuộc nổi dậy chống lại triều đình nhà Lương của hàng tướng Hầu Cảnh đến từ nhà Đông Ngụy, diễn ra từ tháng 8 năm 548 đến tháng 4 năm 552...
, Lý Bá Tiên phải về nước, giao quyền chủ tướng cho Dương Sàn, quân Lương đã bị Triệu Việt Vương tung quân đánh bại), thì dải đất Nghĩa Trụ này đã từng tồn tại và có dấu chân người khoảng những năm 547 - 550 sau công nguyên. Trong phần viết này cũng như dọc suốt phần khai triển cuốn sách, tên các địa danh một số làng, xã thường xuyên có sự thay đổi theo mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, của mỗi triều đại vua chúa trị vì, của mỗi thời đại. Làng Đồng Tỉnh có giai đoạn gọi Cửu Tỉnh, làng Xuân Cầu có giai đoạn gọi Hoa Cầu, Huê Cầu, Huê Kiều, ngày nay gồm ba thôn (Tam Kì, Phúc Thọ, Lê Cao) xã Nghĩa Trụ có thời kỳ gọi Tổng Xuân Cầu, xã Xuân Cầu. Để giúp người đọc tiện theo dõi, đối chiếu, tác giả luôn bám sát các dữ liệu lịch sử giữ nguyên tên gọi theo từng giai đoạn...


 ❧ ❀ ❧


Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết



TOP


TOP

Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2) LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ


TIỂU DẪN:

Xét lịch sử của một làng quê Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển của một vùng đất, xét lịch sử vùng đất ấy qua những biến đổi thăng trầm của một quốc gia, một thời đại (giai đoạn mà quốc gia đó tồn tại). Dòng chảy sự kiện lịch sử luôn song hành cùng sự tồn tại của một quốc gia. Xét các sự kiện lịch sử theo khái niệm khoa học thì lịch sử của nó chính là thời gian mà sự việc, hiện tượng của dữ kiện cần xét đã từng xuất hiện và từng tồn tại mà ta phải nhìn nhận nó như khi nó đang tồn tại. Làng Đồng Tỉnh và làng Hoa Cầu cũng vậy, lịch sử tồn tại và phát triển của hai làng luôn gắn liền với sự phát triển của vùng đất Nghĩa Trụ trên mọi phương diện văn hoá, kinh tế, xã hội, quân sự và nhân văn.

Muốn tìm hiểu một cách sâu sắc và triệt để về lịch sử của làng Đồng Tỉnh, Xuân Cầu phải bắt đầu từ lịch sử của vùng đất đã từng và vẫn đang dung chứa nó, ở đây chính là vùng đất Nghĩa Trụ và con sông Nghĩa Trụ (Sông Tế Giang) trải hàng ngàn năm luân chuyển phù sa đắp bồi kiến tạo mà thành, và muốn tìm hiểu lịch sử phát triển của vùng đất Nghĩa Trụ ta phải bắt đầu từ lịch sử của những con người đầu tiên tạo lập nên vùng đất.



Hiện nay đền Khúc Lộng - Vĩnh Khúc còn thờ Triệu Quang PhụcTriệu Quang Phục:
Triệu Việt Vương (chữ Hán: 趙越王; ?-571), tên thật là Triệu Quang Phục (趙光復), là vua Việt Nam cai trị từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân. Năm 571, ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy, kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.
, song trong phần này, vì các dữ liệu và di tích dạng văn bản của sự kiện Triệu Quang Phục lập căn cứ không thấy ghi lại những dữ kiện lịch sử liên quan đến hai làng cổ Đồng Tỉnh - Xuân Cầu (dù thôn Khúc Lộng một thời gian dài vẫn thuộc tổng Xuân Cầu), nên người viết chỉ có thể dựa vào những dẫn chứng được ghi lại trong các cuốn quốc sử để mô tả, khớp ráp lại một phần lịch sử hình thành của hai làng nhằm đưa lại những thông tin thiết thực và chính xác nhất giúp cho chất lượng cuốn sách được đảm bảo, và để người đọc khỏi bỡ ngỡ, trong các phần tiếp theo, tác giả xin được phép đi sâu hơn vào các chi tiết lịch sử có liên quan biện chứng tới diễn tiến lịch sử của hai làng bắt đầu từ thời hậu Lý Cao TôngLý Cao Tông:
(chữ Hán: 李高宗, 1173–1210) là vị vua thứ bảy của nhà Lý, cai trị từ năm 1176 đến năm 1210.
Tượng thờ vua Lý Cao-Tông
và nhân vật lịch sử Trần Tự KhánhTrần Tự Khánh:
(陳嗣慶, 1175 - 1223) là tướng nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, người có công đặt nền móng cho sự thay thế ngôi nhà Lý của nhà Trần. Ông người Tam Đường, phủ Long Hưng, tỉnh Thái Bình, Việt Nam.

Theo phả hệ họ Trần, Trần Tự Khánh là con thứ của Trần Lý, em của Trần Thừa - người sau này trở thành thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần - và Trần Thị Dung. Tuy nhiên theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Tự Khánh là em của Trần Thừa và là anh của Trần Thị Dung. Cuốn sử này không ghi rõ năm sinh của ông.
, người đã có công xây dựng, phát triển vùng đất này.






 ❧ ❀ ❧

Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2.2) LẠI LINH VÀ CÔNG CUỘC TÁI THIẾT KHU CĂN CỨ NGHĨA TRỤ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết




Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2.4) SỰ PHÁ SẢN CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỒNG LOẠT CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ




4. SỰ PHÁ SẢN CỦA CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐỒNG LOẠT CÁC CĂN CỨ QUÂN SỰ

Làng Đồng Tỉnh - Làng Xuân Cầu (2.5) CĂN CỨ NGHĨA TRỤ VỚI VAI TRÒ KẾT THÚC CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG QUYỀN LỰC TRÊN DIỆN RỘNG CỦA TRẦN TỰ KHÁNH


Chương II LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ




5. CĂN CỨ NGHĨA TRỤ VỚI VAI TRÒ KẾT THÚC CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG QUYỀN LỰC TRÊN DIỆN RỘNG CỦA TRẦN TỰ KHÁNH

PHẦN 2 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TRẦN


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



PHẦN 2 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TRẦN


PHẦN 3 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TIỀN LÊ


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ




PHẦN 3 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI NHÀ TIỀN LÊ

PHẦN 4 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI KỲ NHÀ NGUYỄN


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



PHẦN 4 - GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỜI KỲ NHÀ NGUYỄN


PHẦN 5 - GIAI ĐOẠN SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 CHO ĐẾN NAY


Chương II - LÀNG ĐỒNG TỈNH – LÀNG XUÂN CẦU QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ



PHẦN 5 - GIAI ĐOẠN SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 CHO ĐẾN NAY


GIAI THOẠI VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI HAI THÔN



TIỂU DẪN:

Từ xa xưa cặp địa danh Đồng Tỉnh, Hoa Cầu luôn tồn tại và song hành cùng nhau qua các bài vè, ca dao, tục ngữ, đồng dao, huyền tích còn lưu truyền trong dân gian. Lược bóc đi những yếu tố tâm linh thần thoại hoá - lớp mây mù vốn có sẵn trong bản chất của loại hình văn hoá phi văn bản này, sẽ giải mã được phần nào sự thật và truyền thống cũng như khát vọng sống cao đẹp trải bao thế hệ người xưa gửi gắm lại, qua đó cũng phản ánh được phần nào bản chất thực của những sự kiện đã từng xảy ra trên vùng đất này.

Câu ca dao ghi lại nghề truyền thống của 2 làng:

Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm.

Phản đối lại việc các chức sắc, nha dịch hai làng kình địch nhau, ra sức đốc thúc tiền của dân làng, thuê thợ tạc tượng voi đá, hổ đá:

Đồng tỉnh có tính trộm mèo
Hoa Cầu bắt được đem treo xà nhà...

Mục đích của việc tạc tượng để chôn đánh dấu mốc địa giới với hàm ý của bên chôn voi muốn mượn uy “Đức Ông” thạch tượng, ám chỉ việc “voi giày”.
Bên hổ đá đáp lại bằng việc mượn oai Chúa sơn lâm “Ông ba mươi” ám chỉ hổ tướng nào biết sợ ai...

Hoa cầu có tượng ông voi
Bị hổ Đồng Tỉnh cắn lòi ruột ra...
Chuyện tạc tượng hổ và voi của hai làng được bắt đầu từ việc thuần tuý tâm linh, làng Đồng Tỉnh thờ vị nhân thần tuổi Ất Mão làm thành hoàng làng. Làng Hoa Cầu thờ vị Á thần Nguyễn Tính. Bên võ bên văn. Danh trạng của hai vị lược ghi như sau:

“Hương Chàng lang công” - thành hoàng làng Đồng Tỉnh


Xin nhấp chuột vào mục cần đọc để xem chi tiết