Nguyễn Đạo Quán (1867-?)

Tuesday, July 26, 2011

Nguyễn Đạo Quán (1867-?):
Sinh năm Đinh Mão (1867). Cử nhân khoa Tân Mão (1891).
32 tuổi đỗ Phó Bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái 10 (1898).





KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG QUỐC TRIỀU (TRIỀU NGUYỄN)





國朝明命丙戌科第三甲同進士出身朱文議安豐安阜蘇珍文江春梂禮部右参知克史館察修鄧文啟文江弄亭會元奉使仕至郎中。
明命己丑科第三甲同進士出身范王+貴武江金堆兵部尚書兼都察院右都御史平富總督。
明命壬辰科第三甲同進士出身范伯迢武江金堆太僕寺卿。
紹治壬寅科第三甲同進士出身潘廷揚東岸莊烈北寧督學侍講學士御阮名望安勇黃枚海陽督學。
紹治癸卯科第三甲同進士出身武文俊嘉林金+本場興化按察奉使。
紹治甲辰科第二甲進士出身阮文富東岸檢林後改名思僩奉使第三甲同進士出身阮正嘉平平吳海陽督學紹治丁未科第三甲同進士出身鄭春賞東岸名林山西按察。
嗣德辛亥制科博學宏才第一甲吉士及第第三名武輝翼桂陽廣覽水+禹臚寺卿。
嗣德辛未科第三甲同進士出身阮堪東岸檢林仕至侍郎。
嗣德庚辰科第三甲同進士出身黃文槐東岸芙留仕至侍講。
成泰乙未科同進士香墨譚槏督學辛丑科同進士鄒魯阮廷恂督學明命壬辰科副榜如鱗阮茂擇先生。
紹治辛丑科副帮土塊武佐安先生同知府。
紹治壬寅科副榜芙留阮德鄰先生主事。甲辰科副榜春秀阮文安先生同知府。甲申科副帮萬斯阮品先生督學。
嗣德己酉科副榜東塗范選先生御史。己酉科副榜望月吳光光+翟先生。壬戌科副榜春雷阮廷潤先生副都御史休致。乙丑科副榜克念楊名立先生撫。乙丑科副榜玉開武桶先生布政戌辰科副榜春梂蘇董先生督學庚辰科副榜桐井潘文愛佐。
成泰己丑科副榜多遜鄧錫疇督學。己丑科副榜弄亭鄧樞督學。戊戌科副榜三山阮善繼知縣。戊戌科副榜春梂NguyễnĐạo, đáoQuán辛丑科副榜多牛阮維善知縣。
創立碑亭侍郎前本省督學大卯舉仁杜仲瑋先生。

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


CHU VĂN NGHỊ 朱文議1 người xã Yên Phụ huyện Yên Phong, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh.
TÔ TRÂN 蘇珍2 người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh, làm quan Hữu Tham tri Bộ Lễ sung Sử quán Toản tu.
ĐẶNG VĂN KHẢI 鄧文啟3 người xã Lộng Đình huyện Văn Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh, đi sứ, làm quan đến Lang trung.
PHẠM QUÝ 4 người xã Kim Đôi huyện Võ Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh, làm quan Thượng thư Bộ Binh khiêm Đô sát viện, Hữu đô Ngự sử, Tổng đốc Bình Phú.
PHẠM BÁ THIỀU 笵伯迢5 người xã Kim Đôi huyện Võ Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh, làm Thái bộc Tự khanh.
PHAN ĐÌNH DƯƠNG 潘廷揚6 người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học Bắc Ninh hàm Thị giảng Học sĩ.
NGUYỄN DANH VỌNG 阮名望7 người xã Hoàng Mai huyện Yên Dũng, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học Hải Dương.
VŨ VĂN TUẤN 武文俊8 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị, làm Án sát Hưng Hoá, đi sứ.
NGUYỄN VĂN PHÚ 阮文富9 người xã Du Lâm huyện Đông Ngàn, đỗ Nhị tam giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị, sau đổi tên là Tư Giản. . . . , đi sứ.
NGUYỄN CHÍNH 阮正10 người xã Bình Ngô huyện Gia Bình, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học Hải Dương.
TRỊNH XUÂN THƯỞNG 鄭春賞11 người xã Danh Lâm huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị, làm Án sát Sơn Tây.
VŨ HUY DỰC 武輝翼12 người xã Quảng Lãm huyện Quế Dương, đỗ Chế khoa Bác học Hoành tài, Đệ nhất giáp Cát sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Tân Hợi niên hiệu Tự Đức, làm Hồng lô Tự khanh.
NGUYỄN KHAM 阮堪13 người xã Du Lâm huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Tự Đức, làm quan Thị lang.

HOÀNG VĂN HOÈ 黃文槐14 người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức, làm quan Thị giảng.
ĐÀM LIÊM 譚謙15 người Hương Mặc, đỗ đồng Tiến sĩ khoa t Mùi niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
NGUYỄN ĐÌNH TUÂN 阮廷恂16 người xã Trâu Lỗ, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
NGUYỄN MẬU TRẠCH 阮茂擇17 người xã Như Lân, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh.
VŨ TÁ AN 武佐安18 người xã Thổ Khối, đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị, làm Đồng Tri phủ.
NGUYỄN ĐỨC LÂN 阮德鄰19 người Phù Lưu, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị, làm Chủ sự.
NGUYỄN VĂN AN 阮文安20 người xã Xuân Tú, đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị, làm Đồng Tri phủ.
NGUYỄN PHẨM 阮品21 người xã Vạn Tư, đỗ Phó bảng khoa Giáp Thân niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học.
PHẠM TUYỂN 笵選22 người xã Đông Dư, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức, làm Ngự sử.
NGÔ QUANG DIỆU 吳光耀23 người xã Vọng Nguyệt, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức.
NGUYỄN ĐÌNH NHUẬN 阮廷潤24 người xã Xuân Lôi, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức, làm quan Phó Đô Ngự sử, về hưu.
DƯƠNG DANH LẬP 楊名立25 người xã Khắc Niệm, đỗ Phó bảng khoa t Sửu niên hiệu Tự Đức, làm Tuần phủ.
VÕ GIÁC 武桷26 người xã Ngọc Quan, đỗ Phó bảng khoa t sửu niên hiệu Tự Đức, làm Bố chánh.
TÔ HUÂN 蘇薰27 người xã Xuân Cầu, đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức, làm Đốc học.
PHAN VĂN ÁI 潘文愛28 người xã Đồng Tỉnh, đỗ Phó bảng khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức, làm Thương tá.
ĐẶNG TÍCH TRÙ 鄧錫疇29 người xã Đa Tốn, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
ĐẶNG QUĨ 鄧櫃30 người xã Lộng Đình, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
NGUYỄN THIỆN KẾ 阮善計31 người xã Tam Sơn, đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái, làm Tri huyện.
NGUYỄN ĐẠO QUÁN NguyễnĐạo, đáoQuán32 người xã Xuân Cầu, đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái, làm Tri huyện.
NGUYỄN DUY THIỆN 阮惟善33 người xã Đa Ngưu, đỗ Phó bảng khoa Tân sửu niên hiệu Thành Thái, làm Tri huyện.
Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ  杜仲瑋34 người xã Đại Mão, chức Thị lang, từng làm Đốc học bản tỉnh lập bia.

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Chú thích:

1. Chu Văn Nghị: Xem chú thích số 4, Bia số 84.

2. Tô Trân: Xem chú thích số 6, Bia số 84.

3. Đặng Văn Khải: Xem chú thích số 8, Bia số 84.

4. Phạm Quý: Xem chú thích số 8, Bia số 85.

5. Phạm Bá Thiều: Xem chú thích số 5, Bia số 86.

6. Phan Đình Dương: Xem chú thích số 2, Bia số 90.

7. Nguyễn Danh Vọng: Xem chú thích số 5, Bia số 90.

8. Vũ Văn Tuấn: Xem chú thích số 5, Bia số 91.

9. Nguyễn Văn Phú: Xem chú thích số 2, Bia số 92.

10. Nguyễn Chính: Xem chú thích số 10, Bia số 92.

11. Trịnh Xuân Thưởng: Xem chú thích số 6, Bia số 93.

12. Vũ Huy Dực: Xem chú thích số 2, Bia số 97.

13. Nguyễn Kham: Xem chú thích số 2, Bia số 103.

14. Hoàng Văn Hoè: Xem chú thích số 5, Bia số 104.

15. Đàm Liêm: Xem chú thích số 6, Bia số 107.

16. Nguyễn Đình Tuân: Xem chú thích số 1, Bia số 108.

17. Nguyễn Mậu Trạch (1805-?) người xã Như Lân huyện Văn Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh thứ 13. (1832). Ông làm quan đến Đồng Tri phủ, sau bị cách chức.

18. Vũ Tá An (?-?) người xã Thổ Khối huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cự Khối huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị thứ 1. (1841). Ông làm Đồng Tri phủ.

19. Nguyễn Đức Lân (?-?) người Phù Lưu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị thứ 2. (1842). Ông giữ các chức quan, như Tri huyện Tam Nông, Tri huyện Đan Phượng, Chủ sự Bộ Hình. Ông còn có tên là Nguyễn Đức Tiến.

20. Nguyễn Văn An (?-?) người xã Xuân Tú huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị thứ 4. (1844). Ông làm Đồng Tri phủ.

21. Nguyễn Phẩm (?-?) người xã Vạn Tư huyện Gia Bình (nay thuộc xã Thái Bảo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Giáp Thân niên hiệu Thiệu Trị thứ 4. (1844). Ông làm làm Đốc học Sơn Tây, rồi về hưu.

22. Phạm Tuyển (?-?) người xã Đông Dư huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Đông Dư huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 2. (1849). Ông làm Ngự sử.

23. Ngô Quang Diệu (?-?) người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 2. (1849).


24. Nguyễn Đình Nhuận (1830-?) người xã Xuân Lôi huyện Quế Võ (nay thuộc xã Đại Xuân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức thứ 15. (1862). Ông giữ các chức quan, như Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên, Thị lang Bộ Lại, Tham tri Phó Đô Ngự sử, về hưu. Ông còn có tên là Nguyễn Duy Tân. Có tài liệu phiên là Nguyễn Đình Thuận.

25. Dương Danh Lập (1839-?) người xã Khắc Niệm huyện Tiên Du (nay thuộc xã Khắc Niệm huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Ất Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 18. (1865). Ông giữ các chức quan, như Án sát Hà Tĩnh, làm Tuần phủ Thái Nguyên, thăng hàm Quang lộc Tự khanh. Sau ông về sống ở Hà Nội và mở trường dạy học.

26. Võ Giác (1842-?) người xã Ngọc Quan huyện Lương Tài (nay thuộc xã Lâm Thao huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Ất sửu niên hiệu Tự Đức thứ 18. (1865). Ông làm Bố chánh Thái Nguyên. Ông còn có tên là Võ Trù. Có tài liệu ghi là Nguyễn Giác.

27. Tô Huân (1826-?) người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 21. (1868). Ông giữ các chức quan, như Phó Quản đạo Hà Tĩnh, Đốc học Hải Dương.

28. Phan Văn Ái (1850-?), hiệu là Đồng Giang 桐 江 người xã Đồng Tỉnh huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 33. (1880). Ông giữ các chức quan, như Kinh lược, Tham biện, hàm Quang lộc Tự khanh, Án sát Sơn tây. Ông còn có tên là Phan Văn Tâm.

29. Đặng Tích Trù (1854-?) người xã Đa Tốn huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Đa Tốn huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái thứ 1. (1889). Ông làm quan Tri phủ Xuân Trường, Đốc học. . Khi còn nhỏ ông có tên là Đặng Hữu Trù.

30. Đặng Quĩ (1845-?) người xã Lộng Đình huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái thứ 1. (1889). Ông làm quan Tu soạn, Giáo thụ, Đốc học.

31. Nguyễn Thiện Kế (1856-?) người xã Tam Sơn huyện Từ Sơn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10. (1898). Ông làm Tri huyện.

32. Nguyễn Đạo Quán (1867-?) người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10. (1898). Ông làm Tri huyện.


33. Nguyễn Duy Thiện (1865-?) người xã Đa Ngưu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Tân Tiến huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên) đỗ Phó bảng khoa Tân sửu niên hiệu Thành Thái thứ 13. (1901). Ông làm Tri huyện.

34. Đỗ Trọng Vĩ (18291899) người xã Đại Mão huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), thi đỗ Cử nhân năm Giáp Tý niên hiệu Tự Đức 17. (1864). Ông giữ các chức quan, như Huấn đạo Văn Giang, Giáo thụ Từ Sơn, Án sát Cao Bằng và Thái Nguyên, Tuần phủ Hưng Yên, Đốc học Bắc Ninh.


Nguồn: Viện nghiên cứu Hán Nôm - Viện KHXH





Quốc triều khoa bảng lục

Thời Thành Thái

Khoa Mậu Tuất - 1898

II - Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ xuất thân hay hoàng giáp) - ông hoàng
  1. Đào Nguyên Phổ

III - Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ xuất thân) - dân gian gọi là ông tiến sĩ
  1. Phạm Liêu
  2. Phan Quang
  3. Nguyễn Quí Song
  4. Nguyễn văn Trình
  5. Phạm Tuấn
  6. Nguyễn Tự Như
  7. Bùi Thức




PB - Phó bảng
  1. Ngô Truân
  2. Nguyễn Viết Tuyên
  3. Nguyễn Duy Thắng
  4. Nguyễn Thiện Kế
  5. Nguyễn Đạo Quán
  6. Nguyễn Văn Đàm
  7. Nguyễn Đức Đàm
  8. Trần Đình Bách
  9. Dương Hiển Tiến


Tô Huân (1827-1896)




Tô Huân (1827-1896): đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868).

Theo "Xuân Cầu Tô Thị Gia Phả"

Cụ Tô Huân tên hiệu là Trụ Giang (Làng có sông Nghĩa Trụ).
Năm 22 tuổi đỗ Tú tài khoa Canh Tuất, niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850).
Năm 24 tuổi đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tư, niên hiệu Tự Đức thứ 5 (1852).
Năm 40 tuổi thi Đình, đỗ Phó bảng thứ 7 khoa Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868) được vua cho hưởng vinh quy bái tổ.
Năm 41 tuổi được bổ chức Đồng Tri phủ, lĩnh Tri huyện Thanh Trì (Hà Nội), sau thăng chức phó Ngự Sử ở Kinh (Huế).


Mời xem:
Chuyện cụ đốc Đông
Cụ Phó bảng Tô Huân

 ❀   ❀   ❀   ❀   ❀   ❀ 









KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG QUỐC TRIỀU (TRIỀU NGUYỄN)



國朝明命丙戌科第三甲同進士出身朱文議安豐安阜蘇珍文江春梂禮部右参知克史館察修鄧文啟文江弄亭會元奉使仕至郎中。
明命己丑科第三甲同進士出身范王+貴武江金堆兵部尚書兼都察院右都御史平富總督。
明命壬辰科第三甲同進士出身范伯迢武江金堆太僕寺卿。
紹治壬寅科第三甲同進士出身潘廷揚東岸莊烈北寧督學侍講學士御阮名望安勇黃枚海陽督學。
紹治癸卯科第三甲同進士出身武文俊嘉林金+本場興化按察奉使。
紹治甲辰科第二甲進士出身阮文富東岸檢林後改名思僩奉使第三甲同進士出身阮正嘉平平吳海陽督學紹治丁未科第三甲同進士出身鄭春賞東岸名林山西按察。
嗣德辛亥制科博學宏才第一甲吉士及第第三名武輝翼桂陽廣覽水+禹臚寺卿。
嗣德辛未科第三甲同進士出身阮堪東岸檢林仕至侍郎。
嗣德庚辰科第三甲同進士出身黃文槐東岸芙留仕至侍講。
成泰乙未科同進士香墨譚槏督學辛丑科同進士鄒魯阮廷恂督學明命壬辰科副榜如鱗阮茂擇先生。
紹治辛丑科副帮土塊武佐安先生同知府。
紹治壬寅科副榜芙留阮德鄰先生主事。甲辰科副榜春秀阮文安先生同知府。甲申科副帮萬斯阮品先生督學。
嗣德己酉科副榜東塗范選先生御史。己酉科副榜望月吳光光+翟先生。壬戌科副榜春雷阮廷潤先生副都御史休致。乙丑科副榜克念楊名立先生撫。乙丑科副榜玉開武桶先生布政MậuThần, thìnKhoaPhóBảngXuânCầu HuânTiênSanh, sinhĐốcHọc庚辰科副榜桐井潘文愛佐。
成泰己丑科副榜多遜鄧錫疇督學。己丑科副榜弄亭鄧樞督學。戊戌科副榜三山阮善繼知縣。戊戌科副榜春梂阮道慣辛丑科副榜多牛阮維善知縣。
創立碑亭侍郎前本省督學大卯舉仁杜仲瑋先生。

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


CHU VĂN NGHỊ 朱文議1 người xã Yên Phụ huyện Yên Phong, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh.
TÔ TRÂN 蘇珍2 người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh, làm quan Hữu Tham tri Bộ Lễ sung Sử quán Toản tu.
ĐẶNG VĂN KHẢI 鄧文啟3 người xã Lộng Đình huyện Văn Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh, đi sứ, làm quan đến Lang trung.
PHẠM QUÝ 4 người xã Kim Đôi huyện Võ Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh, làm quan Thượng thư Bộ Binh khiêm Đô sát viện, Hữu đô Ngự sử, Tổng đốc Bình Phú.
PHẠM BÁ THIỀU 笵伯迢5 người xã Kim Đôi huyện Võ Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh, làm Thái bộc Tự khanh.
PHAN ĐÌNH DƯƠNG 潘廷揚6 người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học Bắc Ninh hàm Thị giảng Học sĩ.
NGUYỄN DANH VỌNG 阮名望7 người xã Hoàng Mai huyện Yên Dũng, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học Hải Dương.
VŨ VĂN TUẤN 武文俊8 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị, làm Án sát Hưng Hoá, đi sứ.
NGUYỄN VĂN PHÚ 阮文富9 người xã Du Lâm huyện Đông Ngàn, đỗ Nhị tam giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị, sau đổi tên là Tư Giản. . . . , đi sứ.
NGUYỄN CHÍNH 阮正10 người xã Bình Ngô huyện Gia Bình, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học Hải Dương.
TRỊNH XUÂN THƯỞNG 鄭春賞11 người xã Danh Lâm huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị, làm Án sát Sơn Tây.
VŨ HUY DỰC 武輝翼12 người xã Quảng Lãm huyện Quế Dương, đỗ Chế khoa Bác học Hoành tài, Đệ nhất giáp Cát sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Tân Hợi niên hiệu Tự Đức, làm Hồng lô Tự khanh.
NGUYỄN KHAM 阮堪13 người xã Du Lâm huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Tự Đức, làm quan Thị lang.

HOÀNG VĂN HOÈ 黃文槐14 người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức, làm quan Thị giảng.
ĐÀM LIÊM 譚謙15 người Hương Mặc, đỗ đồng Tiến sĩ khoa t Mùi niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
NGUYỄN ĐÌNH TUÂN 阮廷恂16 người xã Trâu Lỗ, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
NGUYỄN MẬU TRẠCH 阮茂擇17 người xã Như Lân, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh.
VŨ TÁ AN 武佐安18 người xã Thổ Khối, đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị, làm Đồng Tri phủ.
NGUYỄN ĐỨC LÂN 阮德鄰19 người Phù Lưu, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị, làm Chủ sự.
NGUYỄN VĂN AN 阮文安20 người xã Xuân Tú, đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị, làm Đồng Tri phủ.
NGUYỄN PHẨM 阮品21 người xã Vạn Tư, đỗ Phó bảng khoa Giáp Thân niên hiệu Thiệu Trị, làm Đốc học.
PHẠM TUYỂN 笵選22 người xã Đông Dư, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức, làm Ngự sử.
NGÔ QUANG DIỆU 吳光耀23 người xã Vọng Nguyệt, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức.
NGUYỄN ĐÌNH NHUẬN 阮廷潤24 người xã Xuân Lôi, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức, làm quan Phó Đô Ngự sử, về hưu.
DƯƠNG DANH LẬP 楊名立25 người xã Khắc Niệm, đỗ Phó bảng khoa t Sửu niên hiệu Tự Đức, làm Tuần phủ.
VÕ GIÁC 武桷26 người xã Ngọc Quan, đỗ Phó bảng khoa t sửu niên hiệu Tự Đức, làm Bố chánh.
TÔ HUÂN Huân27 người xã Xuân Cầu, đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức, làm Đốc học.
PHAN VĂN ÁI 潘文愛28 người xã Đồng Tỉnh, đỗ Phó bảng khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức, làm Thương tá.
ĐẶNG TÍCH TRÙ 鄧錫疇29 người xã Đa Tốn, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
ĐẶNG QUĨ 鄧櫃30 người xã Lộng Đình, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái, làm Đốc học.
NGUYỄN THIỆN KẾ 阮善計31 người xã Tam Sơn, đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái, làm Tri huyện.
NGUYỄN ĐẠO QUÁN 阮道慣32 người xã Xuân Cầu, đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái, làm Tri huyện.
NGUYỄN DUY THIỆN 阮惟善33 người xã Đa Ngưu, đỗ Phó bảng khoa Tân sửu niên hiệu Thành Thái, làm Tri huyện.
Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ  杜仲瑋34 người xã Đại Mão, chức Thị lang, từng làm Đốc học bản tỉnh lập bia.

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Chú thích:

1. Chu Văn Nghị: Xem chú thích số 4, Bia số 84.

2. Tô Trân: Xem chú thích số 6, Bia số 84.

3. Đặng Văn Khải: Xem chú thích số 8, Bia số 84.

4. Phạm Quý: Xem chú thích số 8, Bia số 85.

5. Phạm Bá Thiều: Xem chú thích số 5, Bia số 86.

6. Phan Đình Dương: Xem chú thích số 2, Bia số 90.

7. Nguyễn Danh Vọng: Xem chú thích số 5, Bia số 90.

8. Vũ Văn Tuấn: Xem chú thích số 5, Bia số 91.

9. Nguyễn Văn Phú: Xem chú thích số 2, Bia số 92.

10. Nguyễn Chính: Xem chú thích số 10, Bia số 92.

11. Trịnh Xuân Thưởng: Xem chú thích số 6, Bia số 93.

12. Vũ Huy Dực: Xem chú thích số 2, Bia số 97.

13. Nguyễn Kham: Xem chú thích số 2, Bia số 103.

14. Hoàng Văn Hoè: Xem chú thích số 5, Bia số 104.

15. Đàm Liêm: Xem chú thích số 6, Bia số 107.

16. Nguyễn Đình Tuân: Xem chú thích số 1, Bia số 108.

17. Nguyễn Mậu Trạch (1805-?) người xã Như Lân huyện Văn Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh thứ 13. (1832). Ông làm quan đến Đồng Tri phủ, sau bị cách chức.

18. Vũ Tá An (?-?) người xã Thổ Khối huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cự Khối huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị thứ 1. (1841). Ông làm Đồng Tri phủ.

19. Nguyễn Đức Lân (?-?) người Phù Lưu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị thứ 2. (1842). Ông giữ các chức quan, như Tri huyện Tam Nông, Tri huyện Đan Phượng, Chủ sự Bộ Hình. Ông còn có tên là Nguyễn Đức Tiến.

20. Nguyễn Văn An (?-?) người xã Xuân Tú huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị thứ 4. (1844). Ông làm Đồng Tri phủ.

21. Nguyễn Phẩm (?-?) người xã Vạn Tư huyện Gia Bình (nay thuộc xã Thái Bảo huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Giáp Thân niên hiệu Thiệu Trị thứ 4. (1844). Ông làm làm Đốc học Sơn Tây, rồi về hưu.

22. Phạm Tuyển (?-?) người xã Đông Dư huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Đông Dư huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 2. (1849). Ông làm Ngự sử.

23. Ngô Quang Diệu (?-?) người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 2. (1849).


24. Nguyễn Đình Nhuận (1830-?) người xã Xuân Lôi huyện Quế Võ (nay thuộc xã Đại Xuân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức thứ 15. (1862). Ông giữ các chức quan, như Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên, Thị lang Bộ Lại, Tham tri Phó Đô Ngự sử, về hưu. Ông còn có tên là Nguyễn Duy Tân. Có tài liệu phiên là Nguyễn Đình Thuận.

25. Dương Danh Lập (1839-?) người xã Khắc Niệm huyện Tiên Du (nay thuộc xã Khắc Niệm huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Ất Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 18. (1865). Ông giữ các chức quan, như Án sát Hà Tĩnh, làm Tuần phủ Thái Nguyên, thăng hàm Quang lộc Tự khanh. Sau ông về sống ở Hà Nội và mở trường dạy học.

26. Võ Giác (1842-?) người xã Ngọc Quan huyện Lương Tài (nay thuộc xã Lâm Thao huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Ất sửu niên hiệu Tự Đức thứ 18. (1865). Ông làm Bố chánh Thái Nguyên. Ông còn có tên là Võ Trù. Có tài liệu ghi là Nguyễn Giác.

27. Tô Huân (1826-?) người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 21. (1868). Ông giữ các chức quan, như Phó Quản đạo Hà Tĩnh, Đốc học Hải Dương.

28. Phan Văn Ái (1850-?), hiệu là Đồng Giang 桐 江 người xã Đồng Tỉnh huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 33. (1880). Ông giữ các chức quan, như Kinh lược, Tham biện, hàm Quang lộc Tự khanh, Án sát Sơn tây. Ông còn có tên là Phan Văn Tâm.

29. Đặng Tích Trù (1854-?) người xã Đa Tốn huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Đa Tốn huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái thứ 1. (1889). Ông làm quan Tri phủ Xuân Trường, Đốc học. . Khi còn nhỏ ông có tên là Đặng Hữu Trù.

30. Đặng Quĩ (1845-?) người xã Lộng Đình huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái thứ 1. (1889). Ông làm quan Tu soạn, Giáo thụ, Đốc học.

31. Nguyễn Thiện Kế (1856-?) người xã Tam Sơn huyện Từ Sơn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10. (1898). Ông làm Tri huyện.

32. Nguyễn Đạo Quán (1867-?) người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái thứ 10. (1898). Ông làm Tri huyện.

33. Nguyễn Duy Thiện (1865-?) người xã Đa Ngưu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Tân Tiến huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên) đỗ Phó bảng khoa Tân sửu niên hiệu Thành Thái thứ 13. (1901). Ông làm Tri huyện.

34. Đỗ Trọng Vĩ (18291899) người xã Đại Mão huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), thi đỗ Cử nhân năm Giáp Tý niên hiệu Tự Đức 17. (1864). Ông giữ các chức quan, như Huấn đạo Văn Giang, Giáo thụ Từ Sơn, Án sát Cao Bằng và Thái Nguyên, Tuần phủ Hưng Yên, Đốc học Bắc Ninh.


Nguồn: Viện nghiên cứu Hán Nôm - Viện KHXH


❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖



Quốc triều khoa bảng lục


Thời Tự Đức

Khoa Mậu Thìn - 1868

II - Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ xuất thân hay hoàng giáp) - ông hoàng
  1. Vũ Nhự


III - Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ xuất thân) - dân gian gọi là ông tiến sĩ
  1. Bùi Ước
  2. Dương Khuê
  3. Nguyễn Tái

PB - Phó bảng
  1. Vũ Duy Tân
  2. Nguyễn Hoan
  3. Nguyễn Thuật
  4. Vũ Văn Báo
  5. Khuất Duy Tài
  6. Hoàng Dụng Tân
  7. Tô Huân
  8. Phan Đình Vận
  9. Lê Khánh Thiện
  10. Lê Doãn Thành
  11. Lâm Chuẩn
  12. Nguyễn Đình Tựu







CỤ PHÓ BẢNG TÔ HUÂN


Cụ tên là Tô Huân tự là Khứ Do, quê làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cụ sinh ngày 3 tháng 3 năm Đinh Hợi (1827) trong một gia đình nho học.

Năm 22 tuổi đỗ Tú tài khoa thi năm Canh Tuất, niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1852).

Năm 24 tuổi đỗ Cử nhân khoa thi năm Nhâm Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 5 (1854).

Năm 40 tuổi đỗ Phó bảng khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 21 (1868), được vua ban cho về quê vinh quy bái tổ.

Năm 41 tuổi được triều đình bổ nhiệm chức tri huyện Thanh Trì. Năm 43 tuổi được thăng chức Đồng tri phủ kiêm lãnh chức Tri huyện Thanh Trì.

Trong thời gian làm tri huyện Thanh Trì, cụ có một số việc làm được nhân dân hết lòng ca ngợi:

Cánh đồng xã Đồng Nhân rộng 5000 mẫu là bãi đất bồi, nhiều năm vỡ đê, xóa sạch bờ cõi. Quan chức địa phương lúc đó định bán đứng cho bọn người mua làm đồn điền. Cụ Tô Huân đã yêu cầu các hộ kê khai, lập bản đồ địa bạ rồi đi điều tra khảo sát,.khẳng định ruộng có chủ, ngăn chặn âm mưu cướp ruộng, lấy lại được cánh đồng đem chia cho nông dân.

Những người được chia ruộng, đóng thuế cày cấy làm ăn, ai cũng tấm tắc khen là: Từ lúc khai quốc đến giờ, chưa có được thịnh trị như thế.!

Xong việc nông dân góp nhau đưa lên tạ cụ 3 thỏi vàng, cụ không nhận mà giao cho Phó tổng tên là Đức xung vào công quỹ.

Năm sau nước sông to quá, đê khó lòng giữ nổi. Nhiều người nản chí lo cho tính mạng bỏ về. Cụ lên một chiếc thuyền và sai buộc dây thuyền vào gốc cây chỗ đê xung yếu nhất để nếu đê vỡ thì chết theo đê, quyết không chịu lên mặt đê. Nhân dân và hào lý thấy thế bảo nhau: Quan tri huyện chết không sợ, một mình một thuyền giữa sóng to nước lớn, quyết giữ đê sao bà con ta có thể bỏ về cho được. Rồi mọi người quay lại, lao vào công việc bồi đắp nên giữ được đê.

Quan đầu tỉnh tâu những việc làm đó của cụ về triều đình. Vua điều cụ về triều thăng chức Phó Ngự sử. Trong thời gian làm Ngự sử cụ đã đàn hặc một viên tri phủ và bốn viên tri huyện bị dân tố cáo nhũng nhiễu bất công. Và đã thẳng thắn can gián vua và các quan trên nhiều việc.

Cũng vì liêm khiết công minh, nhiều người không ưa bảo nhau gièm pha khiếu nại, cụ bị điều đi làm Phó quản đạo Hà Tĩnh.

Không bao lâu những người chống Pháp chiếm được thành Hà Tĩnh. Cụ bị kết tội để thành thất thủ mà không chống cự. Cụ không khuất phục đã cắt lưỡi tự tử nhưng không chết, lại uống thuốc độc nhưng được mấy thủ hạ người dân tộc thiểu số đem vào núi chữa khỏi. Vua phái quan triều đình bắt cụ về khép tội Trảm giam hậu. Có mấy vị quan trong triều là Nguyễn Thuật, Bùi Dị ra sức minh oan cho cụ. Vua bèn gia dụ cho bãi chức về quê năm Giáp Tuất (1874).

Về quê cụ mở trường dạy học trong 13 năm, học trò nhiều người thành đạt, đỗ đạt cao, đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong chính quyền các địa phương và ở cả triều đình Huế.
Năm cụ 60 tuổi, có lẽ thấy rõ oan khuất của cụ, vua cho Kinh lược Bắc kỳ là Hoàng Cao Khải về làng phủ dụ mời cụ ra làm quan. Cụ lấy cớ tuổi cao chối từ nhưng không được. Và sợ liên lụy đến con cháu là chống lệnh vua nên cụ xin nhận một chức quan coi việc học. Cụ được cử làm Đốc học tỉnh Sơn Tây 6 tháng, rồi chuyển về Đốc học tỉnh Hải Dương (tỉnh Đông). Vì thế sau này ở quê gọi cụ là cụ Đốc Đông.

Trong thời gian làm Đốc học Hải Dương, cụ làm đôi câu đối tỏ rõ chí hướng treo ở nhiệm sở:

Đốc thư sinh, phụng thiên tử chiếu
Học hà sự, độc thánh nhân thư


Nghĩa là:

Ta dạy học trò là theo chiếu chỉ của nhà vua
Dạy gì: dạy học trò đọc sách thánh hiền.


Có kẻ xuyên tạc nghĩa của đôi câu đối với viên Thanh tra học chính người Pháp cho là có ý bài Tây. Viên Thanh tra tỏ ý không hài lòng. Cụ liền xin quan tỉnh tâu với triều đình cho về nghỉ tuổi già.

Năm 67 tuổi (năm Giáp Ngọ-1894) cụ được nghỉ hưu và được thăng bổ Hồng lô tự khanh.

Cụ mất ngày 23 tháng Sáu năm Bính Thân (1896) hưởng thọ 69 tuổi.

Hiện nay trong nhà thờ cụ ở làng Xuân Cầu có bức hoành phi và 2 đôi câu đối do ông Phan Đình Hòe, Tuần phủ tỉnh Nam Định và ông Phạm Văn Thụ, Thượng thư Bộ Hộ là học trò cụ cung tiến.

Hoành phi: Thanh môn văn thái

Nghĩa là: Cửa nhà thanh bạch đầy ắp văn chương

Câu đối:

Đại gia khoa hoạn truyền giang bắc
Ngô bối cầm thư đáo hải nam


Dịch nghĩa(1):
Một gia đình lớn, con đường khoa cử, quan trường đã truyền đến dòng sông phía Bắc
Truyền thống văn chương đàn sách đã có tiếng vang đến biển phía Nam

Câu đối:

Bình lĩnh hồng vân du duệ tùng thu giang dĩ bắc
Xuân khê mặc vũ biến tài đào lý hải chi đông.


Dịch nghĩa(2):
Sự hiểu biết thấu triệt của Thầy như đám mây hồng biến đổi chúng con ngay thẳng vững vàng như cây tùng, cây thu là nguồn của con sông phía Bắc.
Những chặng đường dài Thầy trải qua là cơn mưa chữ chuyển hóa thành những học trò giỏi như hoa đào hoa lý, đó chẳng phải là biển rộng phía Đông sao.


(1)(2)Lời dịch câu đối của ông Tô Dũng.


TTHTVN
Viết theo tư liệu của ông Tô Dũng
Hậu duệ đời 9 của cụ Tô Huân





Tô Trân (1791-?)

Monday, July 25, 2011

Tô Trân (1791-?): đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi hội năm Bính Tuất, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 7 (1826).


Danh thần, sử gia đời Minh Mạng, Tự Đức; quê xã Hoa Cầu (sau đổi là Xuân Cầu), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.


Tiểu sử


Tô Trân là người ở xã Hoa Cầu (sau đổi là Xuân Cầu), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.

Năm Minh Mạng thứ 7 (Bính Tuất, 1826), ông đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Biên tu ở Hàn lâm viện, rồi làm ở Hộ tào.

Năm 1833, thăng ông làm Tuần phủ, tạm lãnh quyền coi giữ tỉnh Định Tường. Khi quân Lê Văn Khôi đến vây hãm thành, biết không thể kình chống được, ông bèn "làm bài thơ để lại rồi đi lẩn ngầm ở dân gian" [1]. Sau đó, ông bị cách chức, phái đi lấy công chuộc tội.

Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), ông được khởi phục chức Án sát sứ Thái Nguyên.




Năm sau (1842), triệu ông về triều thăng làm Thái bộ tự khanh, sung chức Toản tu ở  Quốc Sử quán.

Năm Tự Đức thứ nhất (1847), thăng ông làm Tả Tham tri bộ Lễ, song vẫn lĩnh chức ở Quốc sử quán như cũ. Sau lại sung ông làm giảng quan ở Kinh diên.

Khi quân Pháp xâm lược Việt Nam, ông thuộc phái chủ chiến [2].

Đến tuổi 70, ông xin nghỉ việc. Vua Tự Đức ban cho vàng, lụa, rồi cho về. Tô Trân mất năm nào không rõ.

Tác phẩm


Các tác phẩm của ông có:

  1. Bắc hành tập
  2. Đại Nam thực lục chánh biên
  3. Minh Mạng chánh yếu

Trong thời gian Tô Trân giữ chức Toản tu ở Quốc sử quán, ông đã trực tiếp lo việc biên soạn Đại Nam thực lục.

Đại Nam thực lục (chính biên và tiền biên) (560 quyển) do ông và một số sử gia thuộc Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn bắt đầu từ Thái tổ Gia Dũ hoàng đế (Nguyễn Hoàng 1558) đến năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777).

Phần chính biên gồm 66 quyển chép các sự việc từ đời vua Gia Long (1802) đến năm Đồng Khánh cộng tất cả 7 đời vua mỗi đời một kỉ, cộng 7 kỉ (kể cả kỉ dẫn nhập).




Q 1: Đệ nhất kỉ (đời Gia Long).
Q 2: Đệ nhị kỉ (đời Minh Mạng).
Q 3: Đệ tam kỉ (đời Thiệu Trị).
Q 4: Đệ tứ kỉ (đời Tự Đức).
Q 5: Đệ ngũ kỉ (cuối đời Tự Đức - Kiến Phước).
Q 6: Đệ lục kỉ (đời Hàm Nghi, Đồng Khánh).

Ông (Tô Trân) giữ chức Toản tu và trực tiếp biên soạn kỉ thứ nhất và kỉ thứ hai, kỉ thứ ba dưới quyền của Tổng tài Phan Thanh Giản.

Đây là một bộ sử quan trọng và vĩ đại nhất của triều Nguyễn được tổ chức biên soạn công phu và có phương pháp từ trước đến đương thời.

Ngoài ra ông còn trực tiếp biên soạn bộ Minh Mạng chánh yếu trong đời vua Minh Mạng


Di sản Hán Nôm >> Tác giả

2242. NAM HÀNH TẬP //南 行 集

TS. Tô Trân //蘇 珍 ở Tam Kì, x. Hoa Cầu, h. Văn Giang biên soạn.
1 bản viết, 58 tr., 28,5 x 15,5.
A.2367.
MF.3310.
1. Nam Hành tập (từ tr. 1-38): 81 bài thơ tả cảnh, cảm hoài của Tô Trân làm trên đường vào Nam nhậm chức. Có bài kí kể chuyện Nùng Văn Vân.
2. Dương mộng tập
//洋 夢 集 từ tr. 40 - 59: TS. Hà Tông Quyền //何 宗 權 , hiệu Tốn Trai //巽 齋 sáng tác: Văn, thơ làm khi đi hiệu lực ở Nam Dương. Xem Dương mộng tập A.307.

Khen ngợi


Nhận xét về Tô Trân, Đại Nam chính biên liệt truyện có đoạn:
"(Tô) Trân (là người) thanh liêm, tiết nghĩa, nghiêm chỉnh. Khi trước làm Tuần phủ Định Tường, thân hào sợ mà mến yêu...Khi (Tô) Trân ở Thái Nguyên, (trong) ty thuộc có người tham ô, Trân lúc mới đến lỵ, nghe biết đã ghét rồi.


Người ấy cầu xin yết kiến nhưng không được nên sợ lắm, thác xưng có bệnh mà đi. Lại thấy nơi biên giới ấy ít văn học, Trân thường tụ họp các học trò, làm thời khóa giảng dạy, để chấn hưng việc học. Trân tuổi già, ở sử cục lâu ngày, soạn thuật được nhiều, nên lúc bấy giờ (được) người đời trọng vọng, suy tôn"  [3].

Thơ Tô Trân (trích)


Lúc thành Định Tường bị vây hãm, Tô Trân làm một bài thơ rồi lẩn đi. Bài thơ đó như sau:


Phiên âm Hán-Việt:

"Dục bãi bất năng chử vũ dương,
Phân điền, phân thổ bất phân vương.
Gia ưng hữu thất hà tu thỉ.
Lễ bất cầu phong chỉ dụng dương.
Đạt đắc chúng nhân suy hạnh xuất [4]
Thao tồn nhất thủ tự vô đương.
Ngư du thảo hạ hòa biên ổn.
Ngọc chẩn di xa tụy nhất đường."

Bản dịch:

Muốn thôi, cánh liệng, chẳng cho thôi,
Xẻ đất, quyền vương chẳng xe đôi.
Không lợn, đã nhà nề nếp sẵn,
Có dê chưa hậu, lễ nghi rồi.
Nhiều người khen đạt mình may thoát,
Còn một tay thao việc khó trôi!
Cá tựa lúa êm bơi dưới cỏ,
Xe về nhà ngọc họp đầy vơi.


Bài thơ luật Đường bằng chữ Hán trên, theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì "ngoài ý từ biệt tỉnh Định Tường về quê nghỉ, tác giả đã có tài xuất sắc là dùng tám câu thơ, mỗi câu tả tự dạng một chữ, có trật tự rõ ràng, thành tám chữ "Thư lý Định Tường Tuần phủ Tô Trân" (nghĩa là tạm quyền chức Tuần phủ tỉnh Định Tường Tô Trân). Mỗi câu về cách tả tự dạng chiết tự của mỗi từ đề trình bày rõ ý nghĩa cả câu. Đây là một bài thơ vừa có nghệ thuật hội họa, vừa có giá trị nghệ thuật thơ" [5].

Sách tham khảo





  • Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ: " Tô Trân ". Nxb Khoa học và xã hội. Hà Nội. 1992.

Chú thích


  1. ^ Trích trong Chính biên (tr. 556). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 837) viết “thành mất vì giặc Pháp” là không chính xác, vì mãi đến đầu năm 1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha mới từ mặt trận Đà Nẵng kéo vào đánh chiếm thành Gia Định. Xem Trận thành Gia Định, 1859.
  2. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam cho biết: "Phái chủ chiến xuất hiện sau khi Pháp chiếm ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ. Phái này chủ trương tổ chức toàn dân kháng chiến chống Pháp để giữ gìn độc lập dân tộc và thu hồi các tỉnh đã bị Pháp chiếm. Đại diện là Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tư Giản, Tô Trân, Phan Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Lê Hiến Hữu, Vũ Phạm Khải...(trích mục từ: "Phái chủ chiến", bản điện tử: [1]).
  3. ^ Chính biên, tr. 556-557.
  4. ^ Chép theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 837). Chính biên (tr. 556) chép là “thôi hạnh xuất”.
  5. ^ Trích trongTừ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 837.



Khi Pháp xâm lược, ông thuộc phái chủ chiến
một trong hai phái chính trong nội bộ triều đình Tự Đức (1848 - 83), xuất hiện sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ. PCC chủ trương tổ chức toàn dân kháng chiến chống Pháp để giữ gìn độc lập dân tộc và thu hồi các tỉnh đã bị Pháp chiếm. Đại diện là Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tư Giản, Tô Trân, Phan Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Lê Hiến Hữu, Vũ Phạm Khải. Là thiểu số trong triều đình Tự Đức, nhưng đã phản ánh được ý chí truyền thống bảo vệ độc lập dân tộc của toàn dân, thể hiện trong phong trào kháng Pháp sôi nổi suốt trên ba thập kỉ dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước.
(Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam)
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế








VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA THI HỘI NĂM BÍNH TUẤT NIÊN HIỆU MINH MỆNH NĂM THỨ 7 (1826)



皇朝明命柒年丙戌會試科進士題名碑

賜 第 二 甲 進 士 出 身 貳 名
黃 濟 美, 舉人, 山西鎮國威府慈廉縣東鄂社人, 年庚乙卯參拾貳歲
阮 輝 佑, 監生, 海陽鎮寧江府四歧縣春裊社人, 年庚癸卯肆拾肆歲
賜 第 三 甲 同 進 士 出 身 捌 名
潘 清 簡, 舉人, 永清鎮定遠府永平縣安盛和村人, 年庚丙辰參拾壹歲
朱 文 議, 舉人, 北寧鎮慈山府安豊縣安阜社人, 年庚丁未肆拾歲
武 璠, 舉人, 懷德府壽昌縣寺塔村人, 年庚甲子貳拾參歲

魏 克 , 舉人, 乂安鎮德壽府宜春縣春園社人, 年庚己未貳拾捌歲
鄧 文 啟, 舉人, 會元北寧鎮順安府文江縣弄亭社人, 年庚甲寅參拾參歲
武 時 敏, 舉人, 乂安鎮德壽府宜春縣會統社人, 年庚乙卯參拾貳歲
阮 文 勝, 舉人, 懷德府永順縣安泰坊人, 年庚癸亥貳拾肆歲。

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Ban đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2 người
HOÀNG TẾ MỸ 黃濟美1,Cử nhân, người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây, sinh năm tân Mão, thi đỗ năm 32 tuổi.
NGUYỄN HUY HỰU 阮輝佑2,Giám sinh, người xã Xuân Niễu huyện Tứ Kỳ phủ Ninh Giang trấn Hải Dương, sinh năm Quý Mão, thi đỗ năm 44 tuổi.
Ban đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân8 người
PHAN THANH GIẢN 潘清蕑3,Cử nhân, người thôn An Thạnh Hòa huyện Vĩnh Bình phủ Định Viễn trấn Vĩnh Thanh, sinh năm Bính Thìn, thi đỗ năm 31 tuổi.
CHU VĂN NGHỊ 朱文議4, Cử nhân, người xã Yên Phụ huyện Yên Phong phủ Từ Sơn trấn Bắc Ninh, sinh năm Đinh Mùi, thi đỗ năm 40 tuổi.
VŨ [TÔNG] PHAN 武宗璠5,Cử nhân, người thôn Tự Tháp huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức, sinh năm Giáp Tý, thi đỗ năm 23 tuổi.
TÔ TRÂN Trân6, Cử nhân, người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang phủ Thuận An, sinh năm Tân Hợi, thi đỗ năm 36 tuổi.
NGỤY KHẮC TUẦN 魏克循7, Cử nhân, người xã Xuân Viên huyện Nghi Xuân phủ Đức Thọ trấn Nghệ An, sinh năm Kỷ Mùi, thi đỗ năm 26 tuổi.
ĐẶNG VĂN KHẢI 鄧文啟8, Cử nhân, Hội nguyên, người xã Lộng Đình huyện Văn Giang phủ Thuận An trấn Bắc Ninh, sinh năm Giáp Dần, thi đỗ năm 33 tuổi.
VŨ THỜI MẪN 武時敏9, Cử nhân, người xã Hội Thống huyện Nghi Xuân phủ Đức Thọ trấn Nghệ An, sinh năm t Mão, thi đỗ năm 32 tuổi.
NGUYỄN VĂN THẮNG 阮文勝10, Cử nhân, người ở phường An Thái huyện Vĩnh Thuận phủ Hoài Đức, sinh năm Quý Hợi, thi đỗ năm 24 tuổi.
Bia truy khắc ngày lành tháng 3 niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 12 (1831).

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Chú thích:

1. Hoàng Tế Mỹ (1795-?) hiệu Phục Đình và tự là Thế Thúc, nguyên quán xã Đông Bình huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Sau gia đình di cư đến ở xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây (nay là ở xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông là con của Hoàng Nguyễn Thự và thi đỗ Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 6 (1825). Ông giữ các chức quan, như Án sát sứ Hải Dương, Bố chánh Hải Dương, Án sát sứ Cao Bằng, Hữu Thị lang Bộ Hình, Tham tri Bộ Hình và từng được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Lễ. Ông còn có tên là Hoàng Phạm Thanh .

2. Nguyễn Huy Hựu (1783-?) người xã Xuân Niễu huyện Tứ Kỳ phủ Ninh Giang trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đốc học.

3. Phan Thanh Giản (1796-1867) hiệu là Lương Khê,Ước Phu, biệt hiệu là Mai Xuyênvà tự là Tĩnh Bá và Đạm Nhưngười xã An Thạnh Hòa huyện Vĩnh Bình trấn Vĩnh Thạnh (nay thuộc huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre). Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh 6 (1825). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Biên tu, Lang trung Bộ Hình, Tham hiệp Nghệ An, Thị lang Bộ Lễ, Hiệp trấn Ninh Bình, Viên ngoại lang Bộ Hộ, Hồng lô tự khanh, Đại lý tự khanh, Đại thần Viện Cơ mật, Lang trung Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Thự hiệp biện Đại học sĩ, Tổng đốc Vĩnh Long. Khi quân Pháp tấn công Vĩnh Long, ông biết là không thể giữ nổi thành, đã để mất thành cho quân Pháp và tự vẫn. Sinh thời, ông được triều đình cử làm Phó Chánh sứ (năm 1832) sang nhà Thanh (Trung Quốc) và được cử làm Chánh sứ (năm 1863) sang Pháp.

4. Chu Văn Nghị (1787-1842) người xã Yên Phụ huyện Yên Phong phủ Từ Sơn trấn Bắc Ninh (nay thuộc huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Cử nhân năm Kỷ Mão (1819). Tuy thi đỗ Tiến sĩ, nhưng ông không ra làm quan và ở quê dạy học.

5. Vũ Tông Phan (1804-1862) hiệu là Lỗ Am,Đường Xuyênvà tự là Hoán Phủ,người xã Hoa Đường huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương), sau di đến ở thôn Tự Tháp phường Báo Thiên huyện Thọ Xương Hà Nội (nay thuộc quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội).Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 6 (1825). Ông giữ các chức quan, như Tham hiệp tỉnh Thái Nguyên, Đốc học tỉnh Bắc Ninh. Sau ông cáo ốm về nhà mở trường dạy học, học trò theo ông rất đông và nhiều người đỗ đạt.Chữ Tông trong bia bị đục do kiêng huý, nên có tài liệu cũng ghi ông là Vũ Phan.

6. Tô Trân (1781-?) người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang phủ Thuận An (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 6 (1825). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Biên tu, Tuần phủ Định Tường, Án sát Thái Nguyên, Thái bộc tự Thiếu khanh sung làm Toản tu tại Quốc sử quán, rồi thăng Tả tham tri Bộ Lễ. Sau ông xin cáo lão về quê.

7. Ngụy Khắc Tuần (1799-1854) hiệu là Thiện Phủ,người xã Xuân Viên huyện Nghi Xuân phủ Đức Thọ trấn Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Viên huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông là anh của Ngụy Khắc Thành và đỗ Cử nhân năm Tân Tị niên hiệu Minh Mệnh thứ 2 (1821). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện, Lang trung Bộ Hộ, Tham hiệp trấn Ninh Bình và Thanh Hóa, Bố chánh Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Hóa và Nam Định, Hữu Thị lang Bộ Công, Tuần phủ Bắc Ninh, Tổng đốc Sơn- Hưng-Tuyên, sau thăng Thượng thư Bộ Hộ và được cử đi sứ sang Pháp. Sau khi mất, ông được tặng chức Hiệp biện Đại học sĩ.

8. Đặng Văn Khải (1784-?) người xã Lộng Đình huyện Văn Giang phủ Thuận An trấn Bắc Ninh (nay thuộc Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 6 (1825). Ông làm quan Lang trung, từng được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Viên ngoại.

9. Vũ Thời Mẫn (1795-?) người xã Hội Thống huyện Nghi Xuân phủ Đức Thọ trấn Nghệ An (nay thuộc xã Xuân Hội huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 6 (1825). Ông làm quan Bố chánh.

10. Nguyễn Văn Thắng (1803-?) người ở phường An Thái huyện Vĩnh Thuận phủ Hoài Đức (nay thuộc phường Bưởi quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Cử nhân năm Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 6 (1825). Ông làm quan Tham hiệp.

Nguồn: Viện nghiên cứu Hán Nôm - Viện KHXH
❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖

Bia Văn miếu Bắc Ninh >> Bia số 12 - KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG QUỐC TRIỀU (TRIỀU NGUYỄN)

國朝明命丙戌科第三甲同進士出身朱文議安豐安阜 Trân文江春梂禮部右参知克史館察修 

TÔ TRÂN Trân2 người xã Xuân Cầu huyện Văn Giang, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mệnh, làm quan Hữu Tham tri Bộ Lễ sung Sử quán Toản tu. 

Chú thích:  2. Tô Trân: Xem chú thích số 6, Bia số 84.
  


❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖


Xem thêm: Bia Văn miếu Bắc Ninh >> Bia số 12: KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG QUỐC TRIỀU (TRIỀU NGUYỄN) - Cập nhật lúc 18h12, ngày 25/03/2009